- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh S phạm tội: Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh S phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 12-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, số 06 đường Đặng Tràm, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, đối với:
Bị cáo Huỳnh S, sinh ngày: 07/4/1962 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ 11, phường Thủy P, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh L và bà Trần Thị G (đều đã chết); Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo con thứ hai; Có vợ là Tống Thị K, sinh năm 1970 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án: Không, tiền sự: Không. Về nhân thân: Từ năm 1983 đến năm 1987 tham gia nghĩa vụ quân sự, sau đó xuất ngũ về địa phương lập gia đình và làm ăn sinh sống cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ 3, phường Phú B, thị
xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 7, phường Thủy P, thị xã
Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
+ Ông Phan Cảnh T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ 4, phường Phú B, thị xã
Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 12/12/2022, sau khi sử dụng rượu bia, bị cáo Huỳnh S đi bộ về nhà. Khi đi ngang qua nhà số 117 đường Sóng H, phường Phú B, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo S phát hiện có 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen, xám mang BKS: 75G1-137.05 của bà Nguyễn Thị D, trên xe có chìa khoá, đang để trên vỉa hè và không có ai trông coi nên bị cáo Huỳnh S nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo Huỳnh S đến mở khoá xe, nổ máy, rồi điều khiển xe về nhà, sau đó tháo biển số và 02 gương chiếu hậu của xe, nhằm tránh sự phát hiện. Sau khi bị mất xe, bà Dung đã trình báo Cơ quan Công an. Qua truy xét thì phát hiện bị cáo Huỳnh S là người đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen, xám có số khung: 268DY-041798; số máy: C52E-1142558; 01 biển số xe mô tô số 75G1-137.05; 02 (hai) gương chiếu hậu; 01 (một) chìa khóa xe mô tô. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu.
Tại bản Kết luận số 03 ngày 29/12/2022, Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Hương Thủy đã định giá và kết luận 01 xe mô tô BKS: 75G1-137.05, trị giá: 5.550.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thị D khai đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Huỳnh S bồi thường thiệt hại gì thêm và đã viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh S đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS-HTh ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Huỳnh S, về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh S, phạm tội: Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh S từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng đến 18 tháng; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại là bà Nguyễn Thị D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Huỳnh S bồi thường thiệt hại gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Huỳnh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo Huỳnh S trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị hại là bà Nguyễn Thị D trình bày: Về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Huỳnh S thực hiện là như lời khai của bị cáo đã trình bày tại phiên tòa. Hiện nay bà đã nhận được tài sản nên không yêu cầu bị cáo Huỳnh S bồi thường thiệt hại gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật.
[2]. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy thu thập trong hồ sơ đều có giá trị pháp lý.
[3]. Quá trình điều tra truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
[4]. Căn cứ kết tội đối với bị cáo Huỳnh S: Vào khoảng 16 giờ ngày 12/12/2022, tại tổ 03, phường Phú B, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế; bị cáo Huỳnh S đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô xe mô tô mang BKS: 75G1-137.05 của bà Nguyễn Thị D có trị giá: 5.550.000 đồng (Năm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Xét thấy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Huỳnh S thực hiện là đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội này được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Huỳnh S về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bị cáo Huỳnh S là một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vẫn nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ vụ lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
[5]. Xét về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nhất thời nhưng hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Về nhân thân của bị cáo thì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh S không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có một thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh S là có căn cứ pháp luật.
[8]. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Huỳnh S có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, mới phạm tội lần đầu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo Huỳnh S ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ tác dụng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thị D khai đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Huỳnh Song phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10]. Về án phí: Bị cáo Huỳnh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh S phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt:
- Bị cáo Huỳnh S 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh S cho Ủy ban nhân dân phường Thủy P, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 1, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Huỳnh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - Sở Tư pháp tỉnh TT-Huế; - Công an thị xã Hương Thủy; - Công an tỉnh – Phòng PV06; - VKSND thị xã Hương Thủy; - Bị cáo; - Bị hại; - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Phú |