- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 16 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Nhất
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm - Thư ký Toà án nhân dân thị xã B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2023 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thị xã B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự (Theo thủ tục rút gọn) thụ lý số: 39/2023/TLST-HS, ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1971 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ 2, tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Tr, sinh năm 1930 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940; có vợ Phạm Thị Nh, sinh năm 1976 (đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 04 tháng 11 năm 2021, bị Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 193a/QĐ-UBND, thời hạn 03 tháng từ ngày 04 tháng 11 năm 2021 đến ngày 04 tháng 02 năm 2022 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân:
- Ngày 24 tháng 11 năm 2004, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục số: 2151/QĐ-UB, thời hạn đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng, ngày 26 tháng 11 năm 2006 chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Ngày 22 tháng 01 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 04/HSST. Ngày 11 tháng 4 năm 2019 chấp hành án xong hình phạt và được xóa án tích theo quy định.
- Ngày 17 tháng 01 năm 2022, bị Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC về hành vi Đánh bạc với mức phạt tiền là 1.500.000 đồng. Ngày 19 tháng 01 năm 2022 đã nộp phạt theo quy định và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B từ ngày 13 tháng 9 năm 2023 đến ngày 15 tháng 9 năm 2023. Sau đó, chuyển sang tạm giam từ ngày 16 tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Y L Niê, sinh năm 1998. Địa chỉ: Buôn K B, xã C, thị xã B, Đắk Lắk. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Y Br Ayũn, sinh năm 1998. Địa chỉ: Buôn J, xã Ea Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
- Người làm chứng:
1. Anh Y Đ Mlô, sinh năm 1997. Địa chỉ: Buôn K B, xã C, thị xã B, Đắk Lắk. Có mặt
2. Anh Y J Niê, sinh năm 1984. Địa chỉ: Buôn K B, xã C, thị xã B, Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 9 năm 2023, H trú tại tổ dân phố 5, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk điều kH xe mô tô biển số 48B1 - 081.38, nhãn hiệu: HONDA – WAVE (xe này H mượn của anh Y B Ayũn), phía sau xe có treo 02 giỏ xách bằng nhựa màu xanh da trời, khi đi có mang theo 01 con dao thái lan, cán dao bằng nhựa màu vàng và số tiền 1.200.000 đồng, đi từ nhà của mình đến địa bàn thị xã B, tỉnh Đắk Lắk để tìm mua quả sầu riêng. Đến khoảng 05 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến địa phận buôn K B, xã C, thị xã B thì thấy bên đường có vườn sầu riêng của anh Y L đang vào mùa thu hoạch, quan sát xung quanh không thấy người trông coi, nên H đã nảy sinh ý định lấy trộm. Sau đó, H dừng xe cạnh đường, rồi chui qua hàng rào đi vào bên trong vườn sầu riêng và dùng con dao mang theo cắt trộm 09 quả sầu riêng, loại Đôna trên cùng một cây rồi gom lại để cạnh hàng rào, khi đang lấy quả sầu riêng bỏ vào trong hai giỏ xách trên xe thì bị anh Y L phát hiện, bắt giữ H. Sau đó, anh Y L gọi điện thoại cho anh Y Đ và Y J Niê đến cùng đưa H và tang vật về trụ sở Công an xã C, thị xã B giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung quyết định truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS, ngày 13 tháng 9 năm 2023, của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã B, kết luận: 09 trái sầu riêng, loại sầu riêng Đôna, trọng lượng 31 kg, có giá 2.371.500 (Hai triệu, ba trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm đồng).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ- VKS, ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố để xét xử đối với bị cáo Vũ Văn H, về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 9 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 09 trái sầu riêng, loại Đôna, tổng trọng lượng 31kg (ba mươi mốt kilôgram). Đây tài sản hợp pháp của anhY L Niê. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Y L Niê
- 01 chiếc xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Đỏ - Trắng – Đen, số máy: JC43E6340135, số khung: 4320BY394801 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, mang tên Phạm Văn S, sinh năm 1989, trú tại thôn 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đây là tài sản hợp pháp của anh Y Br Ayũn, sinh năm 1998, trú tại buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng đầu tháng 08/2023, anh Y Br Ayũn cho H mượn xe trên để làm phương tiện đi lại. Vào ngày 13 tháng 9 năm 2023, H sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản, anh Y Br Ayũn không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Y Br Ayũn là có căn cứ.
- 01 con dao dài 21,5cm, cán dao màu vàng bằng nhựa, trên cán dao có chữ “KIWI”; lưỡi dao bằng kim loại, trên lưỡi dao có chữ “KIWI – BRAND IN THAILAND”, chiều dài 11,6cm, chiều rộng 1,9cm; 02 giỏ xách bằng nhựa màu xanh da trời có sọc vàng, có quai nhựa màu xanh lá cây và 01 đoạn hộp kim loại, kích thước (75,5 x 8 x 4) cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là số tiền H đem theo để đi mua quả sầu riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị nghị tuyên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anhY L Ayũn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng khoảng 05 giờ 20 phút, ngày 13 tháng 9 năm 2023 tại buôn Kr B, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 09 quả sầu riêng loại Đô Na của anhY L thị bị phát hiện bắt quả tang. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được xác định là 2.371.500 (Hai triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng)
Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Như vậy, hành vi đã thực hiện nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng; bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật đồng thời phát huy tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 09 trái sầu riêng, loại Đôna, tổng trọng lượng 31kg (ba mươi mốt kilôgram). Đây tài sản hợp pháp của anh Y L Niê. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định trả lại tài sản trên cho anh Y L Niê là có căn cứ.
- 01 chiếc xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Đỏ - Trắng – Đen, số máy: JC43E6340135, số khung: 4320BY394801 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, mang tên Phạm Văn S, sinh năm 1989, trú tại thôn 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đây là tài sản hợp pháp của anh Y Br Ayũn, sinh năm 1998, trú tại buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng đầu tháng 08/2023, anh Y Br Ayũn cho H mượn xe trên để làm phương tiện đi lại. Vào ngày 13 tháng 9 năm 2023, H sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản, anh Y Br Ayũn không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Y Br Ayũn là có căn cứ.
- 01 con dao dài 21,5cm, cán dao màu vàng bằng nhựa, trên cán dao có chữ “KIWI”; lưỡi dao bằng kim loại, trên lưỡi dao có chữ “KIWI – BRAND IN THAILAND”, chiều dài 11,6cm, chiều rộng 1,9cm; 02 giỏ xách bằng nhựa màu xanh da trời có sọc vàng, có quai nhựa màu xanh lá cây và 01 đoạn hộp kim loại, kích thước (75,5 x 8 x 4) cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là số tiền H đem theo để đi mua quả sầu riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 13 tháng 9 năm 2023).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 09 (Chín) trái sầu riêng, loại Đôna, tổng trọng lượng 31kg (ba mươi mốt kilôgram). Đây tài sản hợp pháp của anh Y L Niê. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định trả lại tài sản trên cho anh Y L Niê là có căn cứ.
- 01 (Một) chiếc xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Đỏ - Trắng – Đen, số máy: JC43E6340135, số khung: 4320BY394801 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48B1 – 081.38, mang tên Phạm Văn S, sinh năm 1989, trú tại thôn 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đây là tài sản hợp pháp của anh Y Br Ayũn, sinh năm 1998, trú tại buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng đầu tháng 08/2023, anh Y Br Ayũn cho H mượn xe trên để làm phương tiện đi lại. Vào ngày 13 tháng 9 năm 2023, H sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản, anh Y Br Ayũn không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Y Br Ayũn là có căn cứ.
- 01 (Một) con dao dài 21,5cm, cán dao màu vàng bằng nhựa, trên cán dao có chữ “KIWI”; lưỡi dao bằng kim loại, trên lưỡi dao có chữ “KIWI – BRAND IN THAILAND”, chiều dài 11,6cm, chiều rộng 1,9cm; 02 giỏ xách bằng nhựa màu xanh da trời có sọc vàng, có quai nhựa màu xanh lá cây và 01 đoạn hộp kim loại, kích thước (75,5 x 8 x 4) cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Đây là số tiền bị cáo đem theo để đi mua quả sầu riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
(Đặc điểm các vật chứng được mô tả tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Y L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND thị xã B; - Công an thị xã B; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, vi tính. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bá Nhất |