vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vương Văn T, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Về hình phạt: Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VƯƠNG VĂN T- NGUYỄN VĂN C- ĐIỀU 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vương Văn T, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày: 16-03-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Thượng Văn Kịnh

2/ Ông Nguyễn Minh Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương – Kiểm sát viên.

Ng y 16 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ v tên: Vương Văn T, sinh năm: 1990, tại tỉnh Bình Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 00/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Vương Thị L; chưa có vợ con. Tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ng y 14/6/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 20 tháng tù về tội Hủy hoại t i sản theo bản án số 113/2012/HSST. Bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 10 năm 2022 đến nay; có mặt.

2. Họ v tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1994, tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 4, xã T, th nh phố C, tỉnh C Mau. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 00/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị H; chưa có vợ con. Tiền án: Không; tiền sự: Ng y 25/11/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cai nghiện bắt buộc thời hạn 17 tháng theo Quyết định số 64/2020/QĐ-TA; nhân thân: Ng y 23/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 108/QĐ-TA. Bị bắt tạm giam từ ng y 20 tháng 10 năm 2022 đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; địa chỉ: Số xx, Đường D4, Khu phố 3, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vương Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v biễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vương Văn T v Nguyễn Văn C đều l những đối tượng không có nghề nghiệp ổn định v cả hai có mối quan hệ quen biết do cư trú gần nh của nhau tại tổ 8, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khoảng 17 giờ ng y 19/5/2022, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-261.xx của mẹ ruột T l b Vương Thị L để đi chơi thì b L đồng ý. Sau đó, Tuyết chở C đi chơi rồi đến khoảng 19 giờ cùng ng y, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-261.xx chở C về lại nh T, địa chỉ tại tổ 8, khu phố P, phường H, thị xã B. Khi T điều khiển xe mô tô chạy đến đường D4, khu phố 3, phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì T nhìn thấy 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, biển số 61B2-395.xx của anh Nguyễn Văn H đang để trước cổng nh số 44, ở đường D4 nhưng không có người trông coi nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy l m phương tiện đi lại v rủ C cùng thực hiện rồi T sẽ trả tiền cho C thì C đồng ý. Lúc n y, T đưa chiếc xe Yamaha Sirius, biển số 61E1-261.xx cho C đậu cách chiếc xe muốn lấy trộm khoảng 20 mét v cảnh giới còn T đi bộ tới chỗ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, biển số 61B2-395.xx, lén lút tiếp cận v đẩy bộ chiếc xe n y tới chỗ C. Sau đó, T đưa chiếc xe vừa lấy trộm được cho C điều khiển còn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-261.xx v dùng chân đẩy chiếc xe do C đang điều khiển đi về nh trọ của chị ruột T l chị Nguyễn Thị T địa chỉ nh trọ tại số 55/xx, khu phố 6, phường Đ, thành phố T để cất giấu. Khi T và C đến nh trọ của chị T1 thì lúc này trong nh chỉ có con chị T1 l cháu Nguyễn Thị Hồng L, còn chị T1 vắng nh . Tại đây, cháu L không đồng ý cho T gửi xe v o nh nhưng T vẫn kêu C đẩy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 61B2-395.xx v o trong nh trọ của chị T rồi T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-261.xx chở C về lại nh T. Đến 20 giờ 45 phút cùng ng y 19/5/2023, chị T1 về nh v phát hiện trong nh có để 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter m u trắng đỏ đen, biển số 61B2-395.xx không rõ nguồn gốc nên chị T1 đến Công an phường Định Hòa, th nh phố Thủ Dầu Một trình báo sự việc v giao nộp chiếc xe trên.

Ngày 21/5/2022, anh Nguyễn Văn H đến Công an phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc anh H bị lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, biển số 61B2-395.xx tại khu vực trước cổng nh số xx, đường D4, khu phố 3, phường H, th nh phố Thủ Dầu Một. Cùng ngày 21/5/2022, Công an phường Định Hòa, th nh phố Thủ Dầu Một bàn giao 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, biển số 61B2-395.xx cho Công an phường Hòa Phú, th nh phố Thủ Dầu Một để Công an phường Hòa Phú tiến h nh lập hồ sơ vụ việc v chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một xác định được Vương Văn T là người đã rủ rê Nguyễn Văn C thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản như trên. Khi chuẩn bị thực hiện h nh vi phạm tội, T hứa sẽ trả tiền cho C nhưng không nói cụ thể là bao nhiêu. Còn Nguyễn Văn C cũng thừa nhận đã cùng T thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản như trên nhưng C chưa nhận được số tiền n o từ T.

Căn cứ Bản kết luận định giá t i sản số 153/KL-HĐĐGTS ng y 02/6/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên t i sản trong tố tụng hình sự th nh phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, số máy G3M5E032095, số khung RLCUG1220MY007589, biển số 61B2-395.xx, trị giá 47.000.000 (bốn mươi bảy triệu) đồng.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 61B2-395.xx: Quá trình điều tra xác định là t i sản thuộc sở hữu của bị hại Nguyễn Văn H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã giao trả lại cho anh H theo Quyết định xử lý vật chứng số 49 ng y 17/6/2022. Hiện tại, anh H không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha sirius, biển số 61E1-261.xx: Quá trình điều tra xác định là t i sản thuộc sở hữu của b Vương Thị L, bà L không biết việc T dùng xe mô tô n y để đi trộm cắp t i sản của người khác v sau khi thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản nêu trên T đã đem chiếc xe mô tô Yamaha sirius, biển số 61E1-261.xx trả lại ngay cho bà L. Xét thấy chiếc xe mô tô n y đã được xử lý xong nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một không tiến h nh tạm giữ để xử lý.

Cáo trạng số 31/CT-VKSTDM ngày 07/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo Vương Văn T và Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp t i sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét, giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt v mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được h nh vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện l phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại cùng những t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 19/5/2022, tại khu vực trước cổng nh số xx, đường D4, khu phố 3, phường H, th nh phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Vương Văn T là người rủ rê và cùng với Nguyễn Văn C lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Văn H 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, m u trắng-đỏ-đen, biển số 61B2-395.xx, trị giá 47.000.000 (bốn mươi bảy triệu) đồng. Do đó, h nh vi m các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu th nh tội “Trộm cắp t i sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh v điều khoản như trên l có căn cứ, đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.

H nh vi của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về t i sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết h nh vi của mình l vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam m bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện h nh vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nh m đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, h nh vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở th nh công dân có ích cho xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T l người rủ rê v cùng bị cáo C thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; t i sản đã được thu hồi v giao trả cho bị hại l tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng l tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ v o nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt m Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo l phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: T i sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Không có

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ v o Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Vương Văn T, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 19/10/2022.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 20/10/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

4. Về biện pháp tư pháp: Không có

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Vương Văn T, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ