vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Xử phạt: H 16 ( Mười sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2022. [2]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ THẾ HOÀ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Xử phạt: H 16 ( Mười sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày: 09/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG Đ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà G

Các Hội thẩm nhân dân: Bà M

Ông V

- Thư ký phiên tòa: Bà H - Thư ký Tòa án,Tòa án nhân dân quận H,

thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà H - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

H, sinh năm 1973, tại: H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 11 ngõ 2( mới: 22 ngõ 100), phố chợ K, phường T, quận Đ, H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: N( đã chết); Con bà: V( đã chết);Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/01/1992 Công an quận Đống Đa, thành phố H xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh bạc; Bản án số 68/2004/HSST ngày 16/01/2004 TAND thành phố H xử 16 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Danh chỉ bản số: 693 do Công an quận H lập ngày 03/11/2022; Tạm giữ, tạm giam ngày 03/11/2022; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 H; Có mặt.

- Người bị hại: Anh L, sinh năm 1997; HKTT: Số 9 ngõ 697 G, tổ 8, phường G, quận H, H; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông C, sinh năm: 1970, địa chỉ: 17 Hẻm 354/137/21 T, phường K, quận Đ - H; Vắng mặt.

2. Chị A, sinh năm 1970, HKTT: Phòng 1 H3, phường T, quận H, H; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1].Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17h 10 phút ngày 26/01/2022 Đ gọi điện thoại rủ H cùng đi trộm cắp tài sản. Đ đồng ý nên Đ đã điều khiển xe máy Wave BKS 29T1-884.06 đến đón rồi chở Đ đi lòng vòng quanh khu vực đường G xem ai có sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 17h 30 phút cùng ngày, khi Đ và Đ đi qua ngõ 697 G, tổ 8, phường G, quận H, H thì Đ nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2-735.45 của L, sinh năm 1997; HKTT: Số 9 ngõ 697 G, tổ 8, phường G, quận H, H; đang dựng trước cửa số nhà 15 và không thấy ai trông giữ. Đ lái xe đến trước số nhà 2A thì dừng xe để Đ cầm lái và dặn Đ khi nào Đ trộm được xe máy thì phóng xe máy của Đ về nhà. Sau đó Đ đi bộ vào trong ngõ kiểm tra thấy xe đã khóa cổ và khóa từ, đầu xe hướng vào trong. Đ phá khóa rồi dắt lùi xe ra đầu ngõ thì anh L phát hiện hô hoán đuổi bắt. Đ ngồi lên xe, mở khóa điện bỏ chạy. Đ cũng đứng gần đó, thấy Đ đã lấy được xe bỏ chạy nên cũng nổ xe máy bỏ chạy theo nhưng bị anh L cùng người dân phối hợp bắt giữ.

Cơ quan công an đã thu giữ của Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29T1-884.06. Kiểm tra trong cốp xe máy có 01 chiếc ví da màu đen đựng số tiền 500.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 Giấy phép lái xe hạng B1( các giấy tờ đều mang tên Đ) và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Thị Kim Thi.

Quá rà soát, cơ quan công an còn thu giữ được 03 đoạn hình ảnh ghi lại hình ảnh nội dung sự việc Đ cùng với Đ trộm cắp tài sản, được lưu giữ tại USB.

Quá trình điều tra, H bỏ trốn khổi nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm định chỉ điều tra bị can H. Đến ngày 03/11/2022 Hoà đến cơ quan công an đầu thú nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với H để tiếp tục giải quyết theo quy định.

Khi đầu thú, Đ tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, 01 chiếc nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn màu xanh, 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu BURBERY.

Vật chứng của vụ án là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2-735.45 do Đ phóng xe bỏ trốn nên không thu hồi được.

Ngày 10/3/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H ra Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2- 735.45, số khung 071467, số máy 0092926 trị giá 19.000.000 đồng.

Ngày 25/11/2022, chị A là đại diện gia đình H đã tự nguyện bồi thường cho anh L số tiền 36.000.000 đồng. Anh L đã nhận bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt và không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Đối với 01 chiếc ví da màu đen đựng số tiền 500.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 Giấy phép lái xe hạng B1( các giấy tờ đều mang tên Đ) - Đ khai là tài sản của Đ. Quá trình điều tra Đ vắng mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã tách rút toàn bộ hồ sơ liên quan đến hành vi của Đ để điều tra xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, 01 chiếc nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn màu xanh, 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu BURBERY- là tài sản của Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã ra quyết định trao trả lại tài sản cho Đ. Đại diện gia đình Đ được sự đồng ý của Đ đã nhận thay tài sản trên.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29T1-884.06 có số khung : RLHJA3918KY232901, số máy JA39E1092662 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 060949; cơ quạn điều tra đã chuyển lưu kho vật chứng của Chi cục thi hành án quận H.

Ngày 09/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận H ban hành Công văn số 95/CT-VKS-HM “ về việc trích xuất vật chứng vụ án”, theo đó Viện Kiểm sát nhân dân quận H đã có yêu cầu trích xuất “ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29T1-884.06 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 060949” để xử lý cùng với hành vi của đối tượng Đ theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 01/QĐ- ĐTHS ngày 30/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSHM ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố H tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tại phiên tòa: bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận: Ngày 21/6/2022 bị cáo đã cùng với đối tượng Đ thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2- 735.45, trị giá 19.000.000 đồng của anh L tại số nhà 15 ngõ 697 G, tổ 8, phường G, quận H, H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: H từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.

- Bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu nên không xét.

-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh.

[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo H thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận.

[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, điều tra viên, Viện kiếm sát nhân dân quận H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được trong vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/6/2022, tại số nhà 15 ngõ 697 G, tổ 8, phường G, quận H, H, H đã cùng với đối tượng Đ thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2- 735.45, trị giá 19.000.000 đồng của anh L thì bị bắt giữ.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 19.000.000 đồng của người khác khi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự ổn định xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm. Đối tượng Đ là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và đã trốn thoát cùng tài sản bị chiếm đoạt. Bị cáo Đ là đồng phạm giúp sức, bị cáo đứng ngoài cảnh giới, khi đối tượng Đ lấy trộm được tài sản thì Đ đi xe máy của Đ về nhà. Bị cáo Đ nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ hậu quả nguy hiểm xảy ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trong giai đoạn điều tra bị cáo bỏ trốn và bị truy nã. Quá đó thể hiện ý thức của bị cáo là xem nhẹ pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc.

Xét nhân thân bị cáo xấu: Năm 1992 bị cáo có 01 tiền sự xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh bạc; Ngày 16/01/2004 bị cáo bị TAND thành phố H xử 16 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặc dù các tiền án, tiền sự này đã được xoá nhưng qua đó thể hiện bị cáo đã được giáo dục nhưng không chịu sửa đổi mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội.Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo ra đầu thú, khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình và đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho người bị hại; người bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

.Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự :

- Người bị hại là anh L đã nhận bồi thường số tiền 36.000.000 đồng và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xét.

- Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông C là chủ sở hữu xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS: 29E2- 735.45, cho anh L mượn xe máy trên và không có yêu cầu gì đối với anh L, đối với bị cáo nên không xét.

- Đối với chị A là bạn của bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh L số tiền 36.000.000 đồng. Nguồn gốc số tiền 36.000.000 đồng là tiền chung của bị cáo và chị Quế Anh. Chị Quế Anh không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xét.

. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, 01 chiếc nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn màu xanh, 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng nhãn hiệu BURBERY- là tài sản của Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã ra quyết định trao trả lại tài sản cho Đ. Đại diện gia đình Đ được sự đồng ý của Đ đã nhận thay tài sản trên.

Đối với 01 chiếc ví da màu đen đựng số tiền 500.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 Giấy phép lái xe hạng B1( các giấy tờ đều mang tên Đ) - Đ khai là tài sản của Đ. Quá trình điều tra Đ vắng mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã tách rút toàn bộ hồ sơ liên quan đến hành vi của Đ để điều tra xử lý sau.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29T1-884.06 có số khung: RLHJA3918KY232901, số máy JA39E1092662 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 060949 - đã được nhập lưu kho vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng số: NK 2023-0080 ngày 17/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H; Ngày 09/3/2023, tại Công văn số 95/CT-VKS-HM Viện kiểm sát nhân dân quận H đã có yêu cầu trích xuất “ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS 29T1-884.06; và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 060949” để xử lý cùng với hành vi của đối tượng Đ theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 01/QĐ- ĐTHS ngày 30/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, vì vậy HĐXX không xét.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh imei 1: 866967043048191, imei 2: 866967043048183 là tài sản của Đ, có sử dụng để liên lạc với Đ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: H 16 ( Mười sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2022.

[2]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[3]. Bồi thường dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xét.

[4]. Về Biện pháp tư pháp :

-Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh imei 1: 866967043048191, imei 2: 866967043048183.

( Theo biên bản bàn giao vật chứng số: NK 2023-0080 ngày 17/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H).

[5]. Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống Đ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ được tống Đ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ