vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 v…

CA TP.HCM (PC 53 - Đ3); TAND TP. HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 v…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày 03-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Khiết;

2. Bà Bùi Diệu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Vũ B, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường C, Phường G, quận F, Thành phố H; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Không rõ; Họ và tên mẹ: Trần Đ; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con. Tiền án: Ngày 10/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngày 28/01/2022, chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào ngày 04/01/2021. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 05/11/2022.

- Bị hại: Anh Huỳnh P, sinh năm 1999; Địa chỉ: đường G, phường N, quận V, Thành phố Z. (vắng mặt)

Người làm chứng:

1/ Anh Mai M, sinh năm 1997;

2/ Anh Phan V, sinh năm 2004;

Cùng địa chỉ: số 176 đường Phạm Đăng Giảng, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 05/11/2022, Trần Vũ B đang ở nhà tại 60/14 Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân thì Nguyễn D (không rõ nhân thân lai lịch) đến rủ B đi trộm cắp tài sản, B đồng ý. D đưa cho B 01 tay vặn ốc tự động hình chữ L, 03 thanh kim loại được mài dẹp nhọn 01 đầu (mũi đoản) để làm công cụ trộm cắp tài sản, B cất vào túi phải. Sau đó, D điều khiển 01 xe Honda Wave Blade màu đen (không rõ biển số) chở B đi qua nhiều tuyến đường để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang nhà số 387 Phạm Đăng Giảng, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, D thấy có 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X biển số 66C1-545.28 của anh Huỳnh P đang đậu trước cửa không có người trông coi nên D nói B dùng đoản trộm xe trên, B đồng ý. D đậu cách vị trí dựng xe mô tô hiệu Winner X khoảng 05m để cảnh giới, còn B xuống xe, tiếp cận xe mô tô hiệu Honda Winner X lấy ra 01 cây đoản và 01 tay vặn ốc tự động ra để bẻ khóa xe. Bẻ được ổ khóa, xe sáng đèn, B cất khóa chữ L vào túi quần, đoản vẫn để nguyên trên ổ khóa xe, gạt chân chống, lùi xe xuống dốc, đề máy nhưng xe không nổ (do xe hết xăng). Lúc này, có khoảng 03 người thanh niên chạy từ trong nhà ra truy hô nên B bỏ ngã xe, bỏ chạy về phía D nhưng D tăng ga tẩu thoát. B chạy bộ được khoảng 80m thì B vứt cây khóa chữ L và 02 cây đoản xuống đất. Khi đến trước nhà 397 Quốc Lộ 1, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân thì B bị bắt quả tang, còn D thì chạy thoát. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 xe Honda Winner X, biển số 66C1-545.28. Qua xác minh, xe trên do anh Huỳnh P đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả xe trên cho anh Huỳnh P; 01 tay vặn ốc tự động B kim loại hình chữ L; 03 đầu đoản B kim loại; 01 quần thun dài màu đen; 01 áo thun xám ngắn tay.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 574 ngày 08/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng Hình sự thuộc Hội đồng định giá quận Bình Tân thì 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 66C1-545.28, đã qua sử dụng trị giá 24.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh P yêu cầu bồi thường số tiền 554.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 03 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Vũ B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Vũ B như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Vũ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Vũ B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Đối với đối tượng tên D là người thực hiện hành vi trộm cắp cùng với bị cáo B hiện chưa xác minh được nhân thân lý lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào tìm được sẽ xử lý sau. Vật chứng thu giữ trong vụ án xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo thống nhất nội dung bản cáo trạng và tội danh Viện kiểm sát truy tố là đúng, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án, người làm chứng trong vụ án, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 05/11/2022, tại trước nhà 387 Phạm Đăng Giảng, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Trần Vũ B cùng đối tượng tên D (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 66C1-545.28 của anh Huỳnh P, tài sản chiếm đoạt trị giá 24.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, xét vai trò của bị cáo trong vụ án, trong đó D (chưa rõ nhân thân lai lịch) là người khởi xướng, rủ rê, bị cáo là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Đối với đối tượng tên D là người thực hiện hành vi trộm cắp cùng với bị cáo chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào tìm được sẽ xử lý sau.

Phần bồi thường dân sự: Đối với số tiền thay lại ổ khóa xe mới là 554.000 đồng mà bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

6.1. Đối với 01 xe Honda Winner X, biển số 66C1-545.28, qua xác minh, xe trên do anh Huỳnh P đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả xe trên cho anh Huỳnh P.

6.2. Đối với 01 tay vặn ốc tự động B kim loại hình chữ L, 03 đầu đoản B kim loại là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy.

6.3. Đối với 01 quần thun dài màu đen, 01 áo thun xám ngắn tay là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Trần Vũ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Trần Vũ B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2022.

2. Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo bồi thường cho anh Huỳnh P số tiền là 554.000 đồng (Năm trăm năm mươi bốn ngàn đồng). Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiêu hủy 01 tay vặn ốc tự động B kim loại hình chữ L; 03 đầu đoản B kim loại; 01 quần thun dài màu đen và 01 áo thun xám ngắn tay. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK23/57TAM ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân).

4. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Tổng án phí bị cáo phải nộp là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).

5. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ