- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 2…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày 05 – 6 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai
2. Ông Phan Châu Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Minh T, sinh năm 1986 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L bà Nguyễn Thị C; vợ Nguyễn Thị Ú và 01 người con sinh năm 2017.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 23/12/2022, tạm giữ tạm giam đến nay và có mặt tại phiên tòa.
2/ Đinh Văn H, sinh năm 1985 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q và bà Nguyễn Thị X; vợ Nguyễn Thị T1 và 02 người con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015).
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 23/12/2022, tạm giữ tạm giam đến nay và có mặt tại phiên tòa.
3/ Võ Thanh T2, sinh năm 1995 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D và bà Nguyễn Thị Kim L1.
Tiền án: 01 lần. Ngày 22/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 3647/QĐ-UBND, ngày 18/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long buộc bị cáo cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long, bị cáo chấp hành xong tái hoà nhập cộng đồng ngày 16/9/2015.
Bị cáo bị bắt ngày 23/12/2022, tạm giữ tạm giam đến nay và có mặt tại phiên tòa.
4/ Nguyễn Mạch Đăng K, sinh năm 1994 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Phan Thị Đ; vợ Lý Thị Trà M và 01 người con sinh năm 2019.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 39/2015/HSST ngày 02/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt ngày 23/12/2022, tạm giữ tạm giam đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 20 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Nguyễn Minh T sinh năm 1986 ngụ ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long có nhiều đối tượng tụ tập tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã N tiến hành kiểm tra thì phát hiện các đối tượng gồm: Nguyễn Minh T, Võ Thanh T2, Đinh Văn H và Nguyễn Mạch Đăng K đang có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật có liên quan.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt bên ngoài có dòng chữ STING bên trong rỗng, nắp chai gắn 01 co thủy tinh trong suốt và 01 ống nhựa (ống hút) màu trắng xanh.
- 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (niêm phong đánh số 1).
- 01 hộp quẹt gas màu cam.
- 01 cây kéo màu trắng đã qua sử dụng.
- 01 đoạn ống nhựa (ống hút) màu trắng xanh được hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở được cắt nhọn bên trong rỗng.
- 01 dụng cụ mồi lửa có gắn giấy bạc.
- 01 bịch nylon trong suốt 01 đầu hở bên trong rỗng.
- 01 bịch nylon trong suốt 01 đầu hở có dây bóp, bên trong rỗng.
- 04 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại hiệu SAMSUNG J7 mặt sau màu vàng gold của Nguyễn Minh T, 01 điện thoại hiệu SAMSUNG màu đen của Võ Thanh T2, 01 điện thoại hiệu VIVO màu xanh đen của Đinh Văn H và 01 điện thoại hiệu OPPO màu đen của Nguyễn Mạch Đăng K).
- Số tiền 400.000 đồng của Đinh Văn H.
Qua điều tra, Cơ quan điều tra xác định được: Khoảng 19 giờ ngày 23/12/2022 K điện thoại cho H qua nhà của T để chơi và sử dụng ma túy nên H điều khiển xe mô tô qua nhà T. Sau đó K và T2 cùng đi đến nhà của T. Khi gặp nhau thì K, H và T2 bàn bạc hùn tiền với nhau để mua ma túy về cùng sử dụng. T2 dùng điện thoại chuyển tiền vào tài khoản của H là 290.000 đồng (Trọng hùn 100.000 đồng để mua ma túy, còn lại 190.000 đồng là để nạp tiền chơi game).
K dùng điện thoại chuyển tiền vào tài khoản của T2 và nhờ T2 chuyển tiền vào tài khoản của H là 200.000 đồng (K hùn 100.000 đồng để mua ma túy, còn lại 100.000 đồng là để nạp tiền chơi game). H điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu vượt B mua 01 bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng của 01 người tên Ú (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) rồi về nhà của T. H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và bịch ma túy vừa mua để trên bàn gỗ trước cửa nhà dưới của T, H dùng kéo cắt bịch ma túy rồi cho 01 phần vào co thủy tinh để H, T2, K và T cùng nhau sử dụng ma túy. Tiếp đó, T2 lấy bịch ma túy còn lại chia ra thành 02 phần cho vào 02 bịch nylon, rồi dùng 01 bịch ma túy cho vào co thủy tinh để H, T2, K và T tiếp tục sử dụng ma túy, sau đó thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.
Đối với Nguyễn Minh T biết được mục đích của H, T2 và K đến nhà của T để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T vẫn đồng ý cho H, T2 và K sử dụng ma túy tại nhà của T và T cùng sử dụng ma túy chung. Ngoài ra, H, T2, K và T khai nhận ngoài lần sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/12/2022 tại nhà của T thì trước đó trong năm 2022 (không nhớ ngày tháng cụ thể) thì H, T2, K và T còn sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của T từ 02 đến 03 lần. Tại Kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 25/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh V kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1468 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 27/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Đinh Văn H, Võ Thanh T2 và Nguyễn Mạch Đăng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Minh T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong số 967/1, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định là 0,1035 gam và vỏ bao gói.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt bên ngoài có dòng chữ STING bên trong rỗng, nắp chai gắn 01 co thủy tinh trong suốt và 01 ống nhựa (ống hút) màu trắng xanh; 01 hộp quẹt gas màu cam; 01 cây kéo màu trắng đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa (ống hút) màu trắng xanh được hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở được cắt nhọn bên trong rỗng; 01 dụng cụ mồi lửa có gắn giấy bạc; 01 bịch nylon trong suốt 01 đầu hở bên trong rỗng; 01 bịch nylon trong suốt 01 đầu hở có dây bóp, bên trong rỗng; 04 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại hiệu SAMSUNG J7 mặt sau màu vàng gold của Nguyễn Minh T, 01 điện thoại hiệu SAMSUNG màu đen của Võ Thanh T2, 01 điện thoại hiệu VIVO màu xanh đen của Đinh Văn H và 01 điện thoại hiệu OPPO màu đen của Nguyễn Mạch Đăng K) và số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) của Đinh Văn H.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đang quản lý.
Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKSTB ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Đinh Văn H, Võ Thanh T2, Nguyễn Mạch Đăng K tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Minh T, Võ Thanh T2, Đinh Văn H, Nguyễn Mạch Đăng K thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đối với người có tên Ú do bị cáo H khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có đủ cơ sở xác minh để xử lý.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, truy tố các bị cáo Đinh Văn H, Võ Thanh T2, Nguyễn Mạch Đăng K tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H, Võ Thanh T2, Nguyễn Mạch Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 256; Điều 38; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (T3) năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn H mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thanh T2 mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạch Đăng K mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 967/1 ngày 26/12/2022, trên phòng bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K2 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là Giám định viên Nguyễn Thành T4, bên nhận là Phan Thành T5. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,1035 gam và vỏ bao gói.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Một chai nhựa trong suốt bên trong rỗng, bên ngoài có dòng chữ STING, có nắp chai màu đỏ phía trên nắp chai có gắn một co thủy tinh trong suốt đã qua sử dụng và một ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh bên trong rỗng.
- 01 (một) hột quẹt gas màu cam không nhãn hiệu đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh được hàn kín một đầu, một đầu hở được cắt nhọn bên trong rỗng;
- 01 (một) dụng cụ mồi lửa có gắn giấy bạc;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt một đầu hở, bên trong rỗng;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt, một đầu hở có dây bóp, bên trong rỗng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đen;
- 01 (một) điện thoại hiệu Vivo màu xanh đen;
- 01 (một) điện thoại hiệu Oppo màu đen.
Trả lại bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại hiệu Samsung J7 mặt sau màu vàng G và trả lại bị cáo Đinh Văn H số tiền 400.000 đồng.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Lúc 20 giờ 30 phút ngày 23/12/2022 tại nhà của Nguyễn Minh T ngụ ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Đinh Văn H, Võ Thanh T2 và Nguyễn Mạch Đăng K đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1468 gam loại: Methamphetamine thì bị bắt quả tang.
Nguyễn Minh T biết được mục đích của H, T2 và K đến nhà của T để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T vẫn đồng ý cho H, T2 và K sử dụng ma túy tại nhà của T và T cùng sử dụng ma túy chung. Ngoài ra, trước khi bị bắt quả tang vào ngày 23/12/2022 thì trước đó trong năm 2022 T còn để cho H, T2 và K đến nhà của T sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của T từ 02 đến 03 lần.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo Đinh Văn H, Võ Thanh T2, Nguyễn Mạch Đăng K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Nó không những xâm phạm đến trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy gây nghiện, tuyệt đối cấm sử dụng, là tiền đề cho các loại tội phạm khác và các loại tệ nạn xã hội khác phát sinh mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị nhân dân lên án. Bị cáo T biết các bị cáo H, T2, K đến nhà bị cáo sử dụng ma túy nhiều lần nhưng bị cáo vẫn đồng ý. Tác hại của ma túy là rất sâu sắc. Ma túy làm thay đổi nhận thức con người, đưa con người vào trạng thái vô thức và làm bao tội ác để thỏa mãn cơn nghiện của mình. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân hữu ích, đồng thời lấy đó làm răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong vụ án này cần phân tích vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cụ thể của từng bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra.
Bị cáo Nguyễn Minh T biết được rằng hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật bị nhà nước cấm nhưng vẫn thực hiện, bị cáo chứa chấp việc sử dụng trái phep ma túy nhiều lần, đối với nhiều người, đây là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự như luận tội của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận. Vì vậy bị cáo phải có trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo và cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Trong vụ án đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn, giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, trong đó vai trỏ của các bị cáo tương đối ngang nhau, các bị cáo cùng rủ nhau hùn tiền mua ma túy về sử dụng, số tiền hùn mua ma túy là ngang nhau. Sau đó bị cáo H đi mua ma túy về cùng sử dụng chung. Xét thấy tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là tương đối ngang nhau nên mức hình phạt cũng tương đối ngang nhau để thể hiện sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên cần xem xét đối với bị cáo T2 là người có nhân thân không tốt, đã có một tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, lẽ ra bị cáo phải biết nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật tránh xa con đường phạm tội, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới, do đó về quyết định hình phạt đối với bị cáo T2 cần cao hơn bị cáo H và K.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Thanh Trọng phạm t khi chưa được xóa án tích mà lại tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo K còn có ông ngoại tên Phan Văn S1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bà ngoại tên Lưu Thị Ú1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, ông nội Nguyễn Văn L3, bà nội Đinh Thị L4 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo T2 có bà ngoại tên Lê Thị N được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy. Bị cáo T có ông nội tên Nguyễn Văn T6 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bà nội tên Bùi Thị B được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 967/1 ngày 26/12/2022, trên phòng bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K2 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là Giám định viên Nguyễn Thành T4, bên nhận là Phan Thành T5. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,1035 gam và vỏ bao gói.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Một chai nhựa trong suốt bên trong rỗng, bên ngoài có dòng chữ STING, có nắp chai màu đỏ phía trên nắp chai có gắn một co thủy tinh trong suốt đã qua sử dụng và một ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh bên trong rỗng.
- 01 (một) hột quẹt gas màu cam không nhãn hiệu đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh được hàn kín một đầu, một đầu hở được cắt nhọn bên trong rỗng;
- 01 (một) dụng cụ mồi lửa có gắn giấy bạc;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt một đầu hở, bên trong rỗng;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt, một đầu hở có dây bóp, bên trong rỗng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đen của Võ Thanh T2;
- 01 (một) điện thoại hiệu Vivo màu xanh đen của Đinh Văn H;
- 01 (một) điện thoại hiệu Oppo màu đen của Nguyễn Mạch Đăng K1.
Trả lại bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại hiệu Samsung J7 mặt sau màu vàng G và trả lại bị cáo Đinh Văn H số tiền 400.000 đồng theo Biên lai thu tiền số No 0004788 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 10/4/2023.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 256; Điều 38; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 (Bảy) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
2.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
3.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Thanh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Thanh T2 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022.
4. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
4.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạch Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
4.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạch Đăng K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 967/1 ngày 26/12/2022, trên phòng bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K2 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là Giám định viên Nguyễn Thành T4, bên nhận là Phan Thành T5. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,1035 gam và vỏ bao gói.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Một chai nhựa trong suốt bên trong rỗng, bên ngoài có dòng chữ STING, có nắp chai màu đỏ phía trên nắp chai có gắn một co thủy tinh trong suốt đã qua sử dụng và một ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh bên trong rỗng.
- 01 (một) hột quẹt gas màu cam không nhãn hiệu đã qua sử dụng;
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng xanh được hàn kín một đầu, một đầu hở được cắt nhọn bên trong rỗng;
- 01 (một) dụng cụ mồi lửa có gắn giấy bạc;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt một đầu hở, bên trong rỗng;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt, một đầu hở có dây bóp, bên trong rỗng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung màu đen của Võ Thanh T2;
- 01 (một) điện thoại hiệu Vivo màu xanh đen của Đinh Văn H;
- 01 (một) điện thoại hiệu Oppo màu đen của Nguyễn Mạch Đăng K1.
Trả lại bị cáo Nguyễn Minh T 01 điện thoại hiệu Samsung J7 mặt sau màu vàng G và trả lại bị cáo Đinh Văn H số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0004788 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 10/4/2023.
6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Minh T, Đinh Văn H, Võ Thanh T2, Nguyễn Mạch Đăng K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - UBND xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |