- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn K - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 20-3-2023 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN
- THành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lộc
Bà Nguyễn Thị Di
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Tín
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Mai Thị Thiên Lộc.
Ngày 20 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến Hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023, đối với:
Bị cáo Nguyễn Tuấn K, Giới tính: Nam. Sinh năm 1992, tại: Tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)
Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1957; Nghề nghiệp: Làm thuê. Mẹ: Vũ Thị T (đã chết). Bị cáo là con út trong gia đình có bốn anh chị em. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Bản án số 32/2014/HSST ngày 16/4/2014 của TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 13 năm tù về tội “Giết người”. Chấp Hành xong ngày 02/12/2022.
Nhân thân: Quyết định số 40/QĐ-XPHC ngày 16/02/2012 của Công an xã Phước Tỉnh xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 750.000 đồng về Hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. K chưa đóng phạt.
Ngày 11/11/2022, bị cáo bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tam giam số 63/LB-ĐTTH của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Điền.
Bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 2015 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Trúc L: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
2. Anh Phan Vũ Chí H, sinh năm 2016 và bà Vũ Thị H1, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Tổ 25, ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của bị hại Phan Vũ Chí H: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 25, ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
3. Bà Đinh Thị Ánh H2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
4. Phạm Vũ Quỳnh T1, sinh năm 2009 và bà Vũ Thị L2, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của bại hại Phạm Vũ Quỳnh T1: Bà Vũ Thị L2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
5. Bà Nguyễn Thị Hoàng H3, sinh năm 1973 và ông Lê Văn C, sinh năm 1974; Cùng địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ P quan:
1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1980; Địa chỉ: 34, tổ 5, ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
2. Bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
Người chứng kiến: Ông Đào Văn A, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/11/2022, Nguyễn Tuấn K điều khiển xe mô tô BKS 68C1-017.55 đi từ phòng trọ thuê ở ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền với mục đích tìm kiếm tài sản để sơ hở chiếm đoạt. Khi đi ngang dãy phòng trọ khu vực Ấp P, xã T, huyện Đ, K đi vào phòng trọ của chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989 và nhìn thấy cháu Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 2015 (là con gái chị L1) đang ngồi chơi dưới nền nhà bên cạnh có 02 chiếc điện thoại Oppo A15 màu đen và 01 chiếc Oppo A12 màu xanh. Lúc này, K giả vờ đi đến hỏi mẹ cháu L đâu, khi nghe thấy cháu L trả lời cha mẹ cháu không có ở nhà, đồng thời cháu L quay lưng đi lấy nước uống, K liền lấy 02 chiếc điện thoại trên và bỏ đi. Sau khi chiếm đoạt được 02 chiếc điện thoại trên, K bán chiếc điện thoại Oppo A15 màu đen cho một người đàn ông tên Tí X (hoặc Hùng X, chưa rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng và bán 01 chiếc điện thoại di động Oppo A12 màu xanh tại một tiệm điện thoại ở ấp P, xã H do anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1980 làm chủ với số tiền 900.000 đồng. Số tiền bán được tài sản K đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A15 màu đen mà K đã bán cho một người đàn ông tên Tí X (hoặc Hùng X, chưa rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng (hiện không thu hồi được).
- 01 điện thoại di động Oppo A12, màu xanh (đã qua sử dụng). Ngày 15/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã trao trả lại cho chị L1 là chủ sở hữu.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Long Điền kết luận: 01 điện thoại di động Oppo A12, màu xanh, kiểu máy CPH2077, Ram 4GB, đã qua sử dụng là 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng); 01 điện thoại di động Oppo A15, màu đen, đã qua sử dụng là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng). Tổng giá trị của 02 điện thoại trên là 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm ngàn đồng).
- Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 06/11/2022, Nguyễn Tuấn K tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 68C1-017.55 đi đến khu vực nhà thờ Phước Lâm với mục đích tìm kiếm nhà nào để tài sản sơ hở chiếm đoạt. Khi đến nhà chị Vũ Thị H1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ 25 ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nhìn thấy cháu Phan Vũ Chí H, sinh năm 2016 (là con chị H1) đang ở nhà một mình nên K hỏi cháu H ba mẹ có nhà không. Khi biết không có người lớn ở nhà, K giả vờ xin nước uống để cháu H mở cửa. Khi cháu H mở cửa, K đi vào nhà và giả vờ mượn điện thoại để P lạc với mẹ thì cháu H nói không có. Sau đó, cháu H đi vào phòng ngủ của chị H1 lấy chiếc điện thoại Vivo 2015, màu xanh của chị H1 đưa cho K rồi đi lấy nước. Lúc này, K lấy điện thoại rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi.
Sau khi chiếm đoạt chiếc điện thoại tại nhà chị H1, K tiếp tục điều khiển xe mô tô đi khoảng 800m đến nhà chị Đinh Thị Ánh H2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại đây do cửa cổng nhà không đóng, K bước vào và phát hiện trên bàn trước sân nhà chị H2 có một chiếc điện thoại Oppo A7 màu bạc, của chị H2 để trên bàn ở phòng khách không có người trông coi nên K đi vào lấy chiếc điện thoại này rồi bỏ đi.
Tiếp đến, K điều khiển xe mô tô đi khoảng 500m nữa đến nhà chị Phạm Vũ Quỳnh T1, sinh năm 2009; Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thấy không có ai ở nhà nên K đi vào phòng khách lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y15S, màu xanh đang để trên kệ ti vi rồi bỏ đi.
Sau đó, K điều khiển xe mô tô đến trước nhà chị Nguyễn Kim D, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thấy cổng không khóa nên K đi vào để tìm tài sản chiếm đoạt. Tuy nhiên, K chưa lấy được tài sản thì bị chị D và người dân phát hiện giữ K lại, báo cơ quan Công an.
* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý gồm:
01 điện thoại Vivo 2015, màu xanh dương, màn hình cảm ứng có nhiều đường nứt vỡ, loại 32Gb; 01 điện thoại di động Oppo A07, màn hình cảm ứng, loại 32Gb, có nhiều đường nứt vỡ không rõ hình dạng; 01 điện thoại di động Vivo màu xA Y15S, màn hình cảm ứng màu xanh, loại 32Gb. Ngày 06/11/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ H1, Đinh Thị Ánh H2 và Phạm Vũ Quỳnh T1 là chủ sở hữu
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 65, 66, 67/KL-HĐĐGTS cùng ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Long Điền kết luận điện thoại di động Oppo A07 trị giá 900.000 đồng; Điện thoại di động Vivo màu xanh Y15S trị giá 1.360.000 đồng; Điện thoại di động Vivo 2015 trị giá 700.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của 03 điện thoại trên là: 2.960.000 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).
- Vụ thứ 3: Vào ngày 07/11/2022, K đi đến bộ đến khu vực cảng Hưng Thái thuộc Ấp L, xã P, huyện Đ để tìm tài sản sơ hở chiếm đoạt. Tại đây, K thấy nhà chị Nguyễn Thị Hoàng H3, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện Đ có dựng 01 chiếc xe mô tô BS: 72K1-023.12, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu trắng đỏ đen trước sân, không có người trông coi và có sẵn chìa khóa trên xe, giấy đăng ký xe được chị H3 bỏ trong cốp xe. K liền mở khóa xe và lên xe, nổ máy chạy đi. Lúc này, chị H3 phát hiện nên truy hô, đuổi theo giữ xe máy lại nhưng K vẫn tăng ga bỏ chạy làm chị H3 bị té ngã xuống đường.
Đến ngày 08/11/2022, K điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được chở một người bạn tên M về nhà M ở xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch và địa chỉ cụ thể nhà của M). Sau đó, M chở K đến phòng trọ của Đào Văn A, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chơi. Tại đây, K nhờ Văn A đi cầm cố giúp M chiếc xe mô tô trên do K đang cần tiền về quê. K mở cốp xe lấy 01 giấy đăng ký xe đưa cho Văn A. Sau đó, Văn A điều khiển xe mô tô trên đến tiệm cầm đồ H4A thuộc Ngã 3, Châu Pha, Tân Phú, xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ do bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1971 làm chủ. Tại đây, Văn A gặp Nguyễn Anh H4 (là con ruột bà T3) nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên với số tiền 5.000.000 đồng, Văn A đi về đưa cho K 4.800.000 đồng, còn lại 200.000 đồng để trả tiền ăn uống, số tiền trên K đã tiêu xài hết.
* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô BS: 72K1-023.12 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu trắng đỏ đen và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 000709 do anh Lê Văn C (là chồng chị Nguyễn Thị Hoàng H3 đứng tên chủ sở hữu). Ngày 30/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh C là chủ sở hữu.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Long Điền xác định: Xe mô tô BS: 72K1-023.12 trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
- 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu bạc, 01 điện thoại Nokia, màu đen đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của K, không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã trao trả 02 chiếc điện thoại trên cho K.
- 01 thẻ CCCD mang tên Đào Văn A. Đây là CCCD của Văn A, không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho Văn A.
- 01 hợp đồng cầm đồ mang tên Đào Văn A (lưu theo hồ sơ vụ án).
- Đối với 01 xe mô tô BS 68C1-017.55, nhãn hiệu Pusaco, màu đỏ - đen mà bị can K dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định xe mô tô trên do anh Đặng Ngọc A, sinh năm 1965 đứng tên trên giấy chứng nhận sở hữu xe. Vào năm 2019, anh Đặng Ngọc A bán xe mô tô cho Hoàng Văn P, sinh năm 1985 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cuối tháng 10/2022, anh P bán xe mô tô cho K. Hiện chiếc xe trên đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.
- Đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7+, màu đen và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Pro, màu hồng chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT đã thông báo truy tìm chủ sở hữu và tiếp tục tạm giữ để điều tra xác minh xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị L1 yêu cầu bị cáo K phải bồi thường đối với chiếc điện thoại Oppo A15 màu đen, đã qua sử dụng mà K đã chiếm đoạt vào lúc 11 giờ ngày 06/11/2022 không thu hồi được với số tiền 1.800.000 đồng.
- Chị Trần Thị Thu T3 yêu cầu bị cáo K bồi thường số tiền 5.000.000 đồng mà chị T3 đã bỏ ra để cầm chiếc xe mô tô mà K đã chiếm đoạt được trong ngày 07/11/2022.
- Anh Nguyễn Văn T2 yêu cầu bị cáo K bồi thường số tiền 1.500.000 đồng là tiền mà Anh T2 đã bỏ ra để mua 03 chiếc điện thoại do K chiếm đoạt được của chị L1 và trong các ngày khác.
Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKSLĐ, ngày 20-02-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Long Điền để xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đề nghị mức hình phạt đối với Nguyễn Tuấn K từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (B mươi) tháng tù.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung công quỹ 01 xe mô tô BS 68C1-017.55, nhãn hiệu Pusaco, màu đỏ
- đen mà bị cáo K dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo K phải bồi thường như sau:
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị L1 chiếc điện thoại Oppo A15 màu đen, đã qua sử dụng mà K đã chiếm đoạt vào lúc 11 giờ ngày 06/11/2022 không thu hồi được với số tiền 1.800.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Trần Thị Thu T3 số tiền 5.000.000 đồng mà chị T3 đã bỏ ra để cầm chiếc xe mô tô mà K đã chiếm đoạt được trong ngày 07/11/2022.
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 1.500.000 đồng là tiền mà anh T2 đã bỏ ra để mua 03 chiếc điện thoại do K chiếm đoạt được của chị L1 và trong các ngày khác.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là đúng theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, không dám tái phạm và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn K đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 06/11/2022, tại phòng trọ chị Nguyễn Thị L1 thuộc Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Tuấn K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại Oppo (01 chiếc Oppo A15 màu đen và 01 chiếc Oppo A12 màu xanh) của chị L1 với trị giá đã định là 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm ngàn đồng).
Vụ thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 06/11/2022, tại nhà của chị Vũ Thị H1 thuộc tổ 25, ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Tuấn K có hành vi lén lút chiếc điện thoại Vivo 2015 của chị H1 với trị giá đã định là 700.000 đồng. Sau đó, K tiếp tục đến nhà chị Đinh Thị Ánh H2 thuộc ấp P, xã H, huyện Long Điền để lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Oppo A7 màu bạc của chị H2 với trị giá đã định là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng). Tiếp đến, K điều khiển xe đi đến nhà của chị Phạm Vũ Quỳnh T1 thuộc ấp Phước Lâm, xã Phước Hứng, huyện Long Điền lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y15S màu xanh của chị T1 với trị giá đã định là 1.360.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi nghìn). Tổng giá trị tài sản mà K chiếm đoạt được tại khu vực ấp L, xã P, huyện Đ là 2.960.000 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).
Vụ thứ B: Vào khoảng 19 giờ ngày 07/11/2022, tại khu vực cảng Hưng Thái thuộc Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Tuấn K có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô BS: 72K1-023.12 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu trắng đỏ đen của vợ chồng anh Lê Văn C và chị Nguyễn Thị Hoàng H3 với trị giá đã định 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng chẵn).
Bị cáo Nguyễn Tuấn K có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn bất chấp cố ý thực hiện hành vi trộm cắp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự, nội dung điều luật như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời gây mất tự trị an trên địa bàn, thể hiện tính coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn K khai nhận ngoài các lần trộm cắp trên, K còn thực hiện trộm 01 thoại điện thoại di động Samsung Galaxy J7+, màu đen, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Pro, màu hồng, 01 điện thoại di động Oppo màu xanh và 01 điện thoại di động Oppo màu vàng bị vỡ màn hình vào khoảng thời gian từ ngày 22/10 đến ngày 05/11/2022 tại khu vực xã Phước Tỉnh. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa xác định được bị hại nên chưa có cơ sở để xử lý. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Văn T2 khi mua 03 chiếc điện thoại của K nhưng không biết tài sản trên do phạm tội mà có nên không đủ cơ sở để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Đào Văn A khi nhận cầm cố chiếc xe giúp K nhưng không biết tài sản trên do K phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Nguyễn Anh H4 và Trần Thị Thu T3 đã cầm cố xe mô tô nhưng không biết tài sản trên do K phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 02/02/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã chuyển hồ sơ sang UBND huyện Long Điền để xử lý vi phạm hành Chính đối với T3 là chủ cơ sở kinh doanh có hành vi nhận cầm cố xe mô tô thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã tHành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện Hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và nhằm ngăn ngừa tội phạm chung. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở tHành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tuấn K đồng ý bồi thường thiệt hại số tài sản mà K đã chiếm đoạt theo yêu cầu của các bị hại như sau:
- Chị Nguyễn Thị L1 chiếc điện thoại Oppo A15 màu đen, đã qua sử dụng mà K đã chiếm đoạt vào lúc 11 giờ ngày 06/11/2022 không thu hồi được với số tiền 1.800.000 đồng.
- Chị Trần Thị Thu T3 số tiền 5.000.000 đồng mà chị T3 đã bỏ ra để cầm chiếc xe mô tô mà K đã chiếm đoạt được trong ngày 07/11/2022.
- A Nguyễn Văn T2 số tiền 1.500.000 đồng là tiền mà anh T2 đã bỏ ra để mua 03 chiếc điện thoại do K chiếm đoạt được của chị L1 và trong các ngày khác.
Về vật chứng trong vụ án: 01 xe mô tô BS 68C1-017.55, nhãn hiệu Pusaco, màu đỏ - đen bị cáo K dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 28 (hai mươi tám) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-11-2022.
2. Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BS 68C1-017.55, nhãn hiệu Pusaco, màu đỏ - đen.
(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại cơ quan Chi cục thi Hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 55/BB-THA ngày 20-02-2023).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại sau:
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị L1 1.800.000đ (một triệu tám trăm ngàn đồng).
- Bồi thường cho chị Trần Thị Thu T3 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn T2 số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a, d, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Bn Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải chịu 415.000đ (Bốn trăm mười lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20-03-2023), bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh BRVT; - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BRVT; - Công an tỉnh BRVT(PV06, PC10); - VKS huyện Long Điền; - CA huyện Long Điền; - Chi cục THADS huyện Long Điền; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thu Hiền |