- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Tấn T phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Tấn T phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức".
- Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-ST Ngày: 24-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Bút
2. Bà Phan Thị Tuyền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Tạ Tấn T, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 15/7/2002 tại tỉnh C; Trú tại: Ấp 10B, xã T, huyện T, tỉnh C; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn N (sinh năm 1972) và bà Trương Thị H1 (sinh năm 1968); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Trần Trọng H, sinh năm 1981; Trú tại: 732 Quốc Lộ 51, H, thành phố T, thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2020, Tạ Tấn T sử dụng điện thoại của cá nhân của mình truy cập vào mạng xã hội Facebook tìm kiếm và nhắn tin trao đổi với một trang mạng xã hội (T không nhớ thông tin cụ thể của trang này) về việc làm giả cho T một giấy phép lái xe hạng FC và hai bên thỏa thuận mức giá làm giả là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). T cung cấp cho người này 01 ảnh thẻ 3x4 và yêu cầu người này làm giả 01 giấy phép lái xe hạng FC với tên gì cũng được. Khoảng 10 ngày sau, T nhận từ một người giao hàng (Hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể) 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 960203254276 mang tên Lê Minh T do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 và T thanh toán số tiền 800.000 đồng cho người này. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2022, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51C-369.xx kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 60R-057.xx lưu thông trên đường Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi. Khi đi đến Trạm thu phí Tuý Loan thuộc xã Hoà Tiến, huyện Hoà Vang, TP. Đà Nẵng thì bị lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an dừng xe kiểm tra và T xuất trình giấy phép lái xe giả nói trên. Qua kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông nghi ngờ giấy phép lái xe này là giả nên chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang xử lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Tạ Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tang ật thu gi :
- 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 960203254276 mang tên Lê Minh T, sinh ngày 29/10/1995, nơi cư trú xã T, huyện T, tỉnh C do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020.
- 01 Xe ô tô biển kiểm soát 51C-369.xx kéo theo rơ moóc biển số 60R-057.98.
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51C-369.xx do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2021; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe rơ moóc biển số 60R-057.xx do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 23/02/2022; 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 51C-369.xx và 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe rơ moóc biển số 60R-057.xx do Chi nhánh đăng kiểm xe cơ giới 61-02S cấp ngày 08/12/2022.
Tại Bản Kết luận giám định số: 108/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Đà Nẵng xác định: Giấy phép lái xe hạng FC, số: 960203254276, mang tên Lê Minh T, do Sở GT-VT tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 là giả.
Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 26 tháng 04 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố Tạ Tấn T về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Tấn T trình bày nội dung sự việc và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tạ Tấn T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tạ Tấn T từ 06 đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe hạng FC số: 960203254276 mang tên Lê Minh T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 28/12/2020 là giả do bị cáo T đặt trên trang Facebook là chứng cứ của vụ án.
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 51C-369.xx kéo theo rơ moóc biển số 60R-057.xx, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hòa Vang đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên không đề cập.
- Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51C-369.xx; Giấy chứng nhận đăng ký xe rơ moóc biển số 60R-057.xx; Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 51C-369.xx và Giấy chứng nhận kiểm định của xe rơ moóc biển số 60R-057.xx: Sau khi Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại cơ quan có thẩm quyền thể hiện các giấy tờ trên được cấp đúng quy định và Cơ quan điều tra đã chuyển kèm theo hồ sơ vụ việc đến Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an để xử lý cùng hành vi điều khiển xe ô tô không có giấy phép của Tạ Tấn T nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Tạ Tấn T không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo Tạ Tấn T nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo là con một trong gia đình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ba mẹ bị cáo ốm đau nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo về chăm sóc cha mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà cũng như lời khai trong quá trình điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng năm 2020, Tạ Tấn T đã có hành vi dùng điện thoại của cá nhân truy cập vào mạng xã hội Face book tìm kiếm và nhắn tin trao đổi với một T khoản trên trang mạng xã hội (không rõ thông tin cụ thể) để nhờ làm giả cho T một giấy phép lái xe hạng FC và hai bên thỏa thuận mức giá 800.000 đồng; T cung cấp thông tin cho người này và ảnh thẻ (3 x 4) và yêu cầu người này làm giả 01 giấy phép lái xe hạng FC tên gì cũng được. Khoảng 10 ngày sau, T nhận từ một người giao hàng (không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể) 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 960203254276, mang tên Lê Minh T, do sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 và T thanh toán số tiền 800.000 đồng. Tại bản kết luận giám định số: 108/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận: 01 “GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER’S LICENSE” hạng FC, số 960203254276, mang tên Lê Minh T, ghi do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 là giả.
Hành vi của bị cáo Tạ Tấn T đã phạm vào tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo Tạ Tấn T là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng con dấu, T liệu giả không do cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền cấp là vi phạm pháp luật nhưng để lừa dối cơ quan chức năng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo lên trang mạng xã hội Facebook để đặt 01 Giấy phép lái xe hạng FC với giá 800.000 đồng; khi bị lực lượng của Cục Cảnh sát giao thông Bộ Công an kiểm tra hành chính thì bị cáo đã sử dụng giấy phép lái xe hạng FC mang tên Lê Minh T xuất trình để lừa dối, đối phó với cơ quan chức năng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý giấy tờ, tài liệu, con dấu. Bị cáo sử dụng giấy tờ giả để lừa dối cơ quan chức năng, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51C-369.xx kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 60R-057.xx là nguồn nguy hiểm cao độ khi tham gia giao thông nhưng chưa được đào tạo và cấp giấy phép lái xe theo quy định. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Tấn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo Tạ Tấn T.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng FC số: 960203254276 mang tên Lê Minh T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 là giả do bị cáo T đặt trên trang Facebook là chứng cứ của vụ án nên căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 51C-369.xx kéo theo rơ moóc biển số 60R-057.xx, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hòa Vang đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên HĐXX không đề cập.
- Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 51C-369.xx; Giấy chứng nhận đăng ký xe rơ moóc biển số 60R-057.xx; Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 51C-369.xx và Giấy chứng nhận kiểm định của xe rơ moóc biển số 60R-057.xx: Sau khi Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại cơ quan có thẩm quyền thể hiện các giấy tờ trên được cấp đúng quy định và Cơ quan điều tra đã chuyển kèm theo hồ sơ vụ việc đến Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an để xử lý cùng hành vi điều khiển xe ô tô không có giấy phép của Tạ Tấn T nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Quá trình điều tra, Tạ Tấn T còn khai nhận: Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả, vài ngày sau T nhận được từ một người giao hàng chứng minh nhân dân mang tên Lê Minh T (chứng minh nhân dân này do người làm giả giấy phép lái xe tự ý làm tặng T và không lấy tiền phí) nhưng sau đó T đã làm mất nên không thể giao nộp cho cơ quan Công an nên Cơ quan điều tra nên không có cơ sở điều tra, xử lý là có căn cứ.
Đối với đối tượng đã làm giả giấy phép lái xe cho Tạ Tấn T và đối tượng giao giấy phép lái xe giả cho T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có cơ sở.
Đối với đối tượng Lê Minh T (sinh ngày 29/10/1995, trú tại ấp 10B, xã T, huyện T, tỉnh C): Qua xác minh, T không có mặt tại địa phương và địa phương không nắm rõ T đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Trần Trọng H là chủ sở hữu của xe ô tô BKS 51C-369.xx và rơ moóc BKS 60R-057.xx: Qua điều tra xác định H không không liên quan đến việc phạm tội của Tạ Tấn T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Tạ Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tạ Tấn T phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức".
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên xử,
Xử phạt: Bị cáo Tạ Tấn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với bị cáo Tạ Tấn T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Tuyên xử: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe hạng FC số: 960203254276 mang tên Lê Minh T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh C cấp ngày 28/12/2020 là giả, là chứng cứ của vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Buộc bị cáo Tạ Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) trích sao bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tung; - VKSND huyện Hòa Vang; - VKSND TP. Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS huyện Hòa Vang; - Công an huyện Hòa Vang; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đức Thiện |