vanban.org

Bản án 37/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-ST
Ngày 28 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lành Văn Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Hòa

Ông Dương Văn Đắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1996 tại xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 và bà Bế Thị B, sinh năm 1972; vợ: Dương Thị T, sinh năm 1995; con: Có 03 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Có 03 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể là: Tại Bản án số 22/2017/HSST ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương nhưng bị cáo chưa hoàn trả số tiền 1.200.000đ cho anh Hoàng Thanh S thì lại tiếp tục trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù tại bản án số 36/2018/HS-ST ngày 28/11/2018. Ngày 21/2/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, tuy nhiên đến ngày 30/01/2021 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn xử phạt 02 năm tù tại bản án số 09/2021/HS-ST ngày 28/4/2021. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương từ ngày 30/11/2022, đã thi hành xong khoản nộp án phí tuy nhiên chưa được xóa án tích đến ngày 11/11/2023 lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.

Tiền sự: Có 02 tiền sự. Ngày 15/01/2021 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã theo Quyết định số: 13/QĐ-UBND ngày 15/01/2021 trong thời hạn 03 tháng, đến ngày 15/4/2021 đã chấp hành xong. Tuy nhiên đến ngày 05/12/2022 Nguyễn Văn L lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại xã theo Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 03/2/2023 trong thời hạn 03 tháng, đến ngày 03/5/2023 đã chấp hành xong. Tuy nhiên theo quy định bị cáo Nguyễn Văn L chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đều chưa được xóa án tích và có 02 tiền sự là bị Ủy nhân dân dân xã T áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đều chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1973.Địa chỉ: Thôn L1, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/11/2023, Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận trình báo của bà Hoàng Thị C về việc: Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 11/11/2023 bà Hoàng Thị C đi làm ở ngoài đồng về nhà thì phát hiện cửa phòng ngủ bị phá khóa, khi kiểm tra trong túi xách treo ở tường thì phát hiện bị mất số tiền 2.345.000đ. Ngay sau khi tiếp nhận trình báo của bà Hoàng Thị C, Công an xã T, huyện B đã tiến hành lập biên bản kiểm tra xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày 11/11/2023, đối tượng Nguyễn Văn L đã đến Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đầu thú khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản tại nhà của bà Hoàng Thị C và tự nguyện giao nộp số tiền 2.345.000đ đã lấy cắp của bà Hoàng Thị C.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn L đến nhà bà Hoàng Thị C tại thôn L1, xã T với mục đích trộm cắp tài sản. Nguyễn Văn L đi ra phía sau nhà bà Hoàng Thị C rồi trèo qua tường rào, cậy lưới sắt quây ở sau nhà để chui vào trong sân. Khi vào trong sân, thấy có 02 bao tải gồm 01 bao tải màu trắng, 01 bao tải màu cam để cạnh tường, Nguyễn Văn L cầm 02 bao tải trùm lên đầu và người để đi vào nhà. Thấy cửa phòng ngủ khóa ngoài, Nguyễn Văn L dùng tay rung lắc cánh cửa khoảng sáu đến bảy lần thì chốt cửa bung ra, sau đó L mở cửa phòng đi vào rồi quan sát xung quanh phòng, L phát hiện chiếc túi xách màu đen treo ở sau cánh cửa phòng, L tiến đến mở túi xách thấy có nhiều tờ tiền với mệnh giá khác nhau. L đã lấy trộm toàn bộ số tiền ở trong túi xách bỏ hết vào túi quần bên phải L đang mặc. Sau khi trộm được tiền L mở cửa đằng sau của nhà bà C đi ra ngoài rồi nhảy qua tường rào đi về nhà. Sau đó L đi bộ ra quán tạp hóa ở thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, ngồi chơi được một lúc thì L nhớ ra nhà bà Hoàng Thị C có gắn Camera an ninh, do lo sợ bị bắt nên Nguyễn Văn L đã đến Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để đầu thú về hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp được tại nhà bà C cho công an xã T bao gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 14 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 31 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, tổng số tiền là: 2.345.000 đồng. Công an xã T, huyện B đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 28/KL-KTHS, ngày 23/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Toàn bộ số tiền Việt Nam niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật.”

Vật chứng của vụ án: Số tiền 2.345.000đ mà Nguyễn Văn L tự nguyện giao nộp khi đầu thú. Ngày 26/11/2023 Cơ quan Công an huyện Bắc Sơn ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ số tiền 2.345.000đ cho bị hại là bà Hoàng Thị C.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hoàng Thị C sau khi nhận lại đủ số tiền bị mất, bà C không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác đối với Nguyễn Văn L.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSBS ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội Trôm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Ghi nhận Cơ quan Công an huyện Bắc Sơn đã trả số tiền cho bị hại theo biên bản giao nhận ngày 26/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bị mất, ngoài ra không yêu cầu đề nghị gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại không ai có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 11/11/2023 Nguyễn Văn L là đối tượng có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, lợi dụng lúc bà Hoàng Thị C không ở nhà, Nguyễn Văn L đã lén lút mở cửa vào nhà của bà Hoàng Thị C và lấy trộm số tiền 2.345.000đ để trong túi xách treo trên tường trong phòng ngủ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản đều chưa được xóa án tích và có 02 tiền sự là bị Ủy nhân dân dân xã T áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đều chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về tiến án, tiền sự: Bị cáo có 02 tiền sự là bị Ủy nhân dân dân xã T áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đều chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Có 03 tiền án chưa được xóa án tích là tại bản án số 22/2017/HS-ST ngày 25/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội; Bản án số 36/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội và tại Bản án số 09/2021/HS-ST ngày 28/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt trở về địa phương nhưng chưa được xóa án tích, ngày 11/11/2023 lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù của các bản án trước nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm. Do hành vi của bị cáo đã áp dụng tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và bị cáo đã đến Công an xã T đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năm hối cải.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ được bị cáo Nguyễn Văn L không có thu nhập và không có tài sản riêng gì có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Số tiền 2.345.000đ bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện giao nộp khi đầu thú. Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã trả số tiền là 2.345.000đ cho bà Hoàng Thị C theo biên bản giao nhận ngày 26/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã giao nộp số tiền 2.345.000đ để bồi thường cho bị hại là bà Hoàng Thị C. Sau khi nhận được đủ số tiền bị mất bà Hoàng Thị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã trả số tiền 2.345.000đ cho bà Hoàng Thị C theo biên bản giao nhận ngày 26/11/2023.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nêu trên nên được chấp nhận.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã trả số tiền 2.345.000đ (hai triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho bà Hoàng Thị C theo biên bản giao nhận ngày 26/11/2023.

4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn L đã giao trả đủ số tiền 2.345.000đ (hai triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho bị hại bà Hoàng Thị C theo biên bản giao nhận ngày 26/11/2023.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/12/2023).

Cỡ chữ