vanban.org

Bản án 37/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 18/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Công M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội “Cố ý gây thương tích; Bị cáo Trần Minh T (N) phạm tội “… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Võ Công Minh, Trần Minh Trí - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T;
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HS-PT
Ngày: 28/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu.

Ông Trương Thị Tuyết Linh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Thư ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Võ Công M, sinh năm: 1999, tại tỉnh Tiền Giang;

Nơi cư trú: ấp M, xã N, thành phố P, tỉnh Tiền Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12;

Con ông Trần Văn T và bà Võ Thị Bé T;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền sự: Ngày 07/12/2021 bị Công an thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang ra quyết định số 3476/QĐ-XPHC xử phạt hành chính số tiền 8.250.000 đồng về hành vi không chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và tụ tập nhiều người nơi công cộng gây mất an ninh trật tự (đã chấp hành quyết định đóng phạt vào ngày 14/12/2021);

Tiền án: không;

Bị tạm giữ từ ngày 13/5/2022;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

2. Trần Minh T (tên gọi khác: N), sinh năm: 2000, tại tỉnh Tiền Giang;

Nơi cư trú: ấp M, xã N, thành phố P, tỉnh Tiền Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 08/12;

Con ông Trần Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị Thanh T;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Nhân thân: năm 2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Theo bản án số 21/2018/HS-ST ngày 04/6/2018), đã chấp hành xong bản án (đã xóa án tích);

Tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ từ ngày 13/5/2022;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*. Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11 và 12/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử và tuyên án đối với các bị cáo trong vụ án: “Giết người, cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng” xảy ra ngày 17/3/2021 tại quán Karaoke X.O thuộc ấp M, xã N, thành phố P, tỉnh Tiền Giang. Trong đó, có Thạch Trung N là bị cáo trong vụ án được tại ngoại bị triệu tập đến để xét xử;

Trước đó vào ngày 11/5/2022, khi Thạch Trung N dự xét xử xong ra về thì gặp Lê Công D đang đứng trước cổng trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. D thách thức và hăm dọa đánh nhau với N thì N điều khiển xe mô tô bỏ chạy về nhà. Sau đó, do lo sợ nhóm của D gây sự nên N điện thoại nói cho Nguyễn Minh T và Tạ Văn S biết, đồng thời N kêu T và S tìm rủ thêm người vào sáng ngày 12/5/2022 đến trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để chờ Tòa án xét xử xong thì rước N về nhà;

Khoảng 10 giờ ngày 12/5/2022, Trần Võ Công M lấy 02 (hai) khẩu súng đang cất giấu tại nhà ở của M, gồm: 01 (một) khẩu súng dạng ổ quay dài 205mm, ổ quay bằng kim loại màu trắng - vàng đồng, súng có ghi ký hiệu ZM05 và 01 (một) khẩu súng dạng ổ quay dài 195mm, ổ quay bằng kim loại màu đen, súng có ghi ký hiệu MADE IN CHINA-SMITH & WESSON-ZP-5 và điều khiển xe mô tô hai bánh chạy đến nhà Nguyễn Minh T để rủ Thắng đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xem xét xử và chờ rước N đi về;

Khi đến nhà T thì M gặp T, Tạ Văn S; Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành N, Vũ Đình K và 06 người khác là bạn của T (Trần Thanh D, Tăng Đức C, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trần Thái T, Nguyễn Thanh T và Võ Văn K). Tất cả đang ngồi uống nước tại quán giải khát của gia đình T. M đi vào nhà, đưa cho T 01 khẩu súng, T cầm lấy để vào túi quần phía trước đang mặc trên người, khẩu súng còn lại M giấu ở lưng quần trước bụng của mình. Sau đó, M và T cùng nhóm bạn kéo nhau đến khu vực trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang và dừng đậu xe mô tô ở lề đường đối diện để chờ N ra về;

Đến khoảng 11 giờ ngày 12/5/2022, sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang tuyên án và xét xử xong, Thạch Trung N điều khiển xe mô tô 02 bánh đi từ khuôn viên trụ sở Tòa án ra ngoài đường Lê Lợi (trước cổng trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh) để đi về nhà thì bị Lê Công D và Trần Minh T gây sự, dùng tay, chân đánh N. Lúc này, Trần Võ Công M đang ngồi trên xe mô tô 02 bánh với Nguyễn Tấn T ở lề đường đối diện cùng nhóm bạn của mình (nhóm của T), thấy N bị vây đánh nên M bước xuống xe lấy súng mang theo trong người ra, dạng súng Rulo “khẩu súng dạng ổ quay dài 205mm, ổ quay bằng kim loại màu trắng-vàng đồng là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng” bắn một phát trúng vào vùng mông bên phải của Trần Minh T gây thương tích 01% (Một phần trăm);

Sau khi dùng súng bắn giải vây cho N thì M, T cùng nhóm bạn đi chung bỏ chạy đến sân bóng đá thuộc địa bàn xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang, Thắng đưa lại cho M một khẩu súng mà M đã đưa cho T trước đó. Việc T đưa súng cho M cất giấu có Nguyễn Tấn T (B), Vũ Đình K (C) chứng kiến. Sau đó, M đã trực tiếp đem cất giấu 02 khẩu súng tại bụi chuối cặp mé kênh gần sân bóng đá thuộc ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cất giấu xong, M đi về và lấy 01 khẩu súng bắn đạn pháo đang để ở nhà đem theo và đến 17 giờ cùng ngày, Trần Võ Công M đến cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Tiền Giang đầu thú và khai báo nơi cất giấu hai khẩu súng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang đã tiến hành thu giữ 02 khẩu súng cùng 16 viên đạn và 01 vỏ đạn. Qua điều tra, M khai nhận nguồn gốc 03 (ba) khẩu súng do M đặt mua trên mạng xã hội Youtube trước đó khoảng 04 tháng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 18/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Võ Công M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội “Cố ý gây thương tích. Bị cáo Trần Minh T (N) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 304, điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55 của Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Công M 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tính”. Tổng hợp hình phạt của 03 tội là 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh T (N) 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lê Công D, Nguyễn Minh T, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

* Ngày 25/01/2023, các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các bị cáo đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đưa ra nhiều luận cứ phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét thời hạn kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào đơn kháng cáo ngày 25/01/2023, các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T kháng cáo trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

. Xét yêu cầu kháng các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T về việc xin xem xét giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về ý thức chủ quan: Bị cáo M biết rằng việc tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo M là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn nơi công cộng và sức khỏe của người khác;

Bị cáo T cũng biết rằng tại khu vực trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh là nơi công cộng có đông người, bị cáo T cùng tham gia đánh Nghĩa nhằm hỗ trợ cho bị cáo D đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương;

Các bị cáo M, Trí đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Vào ngày 12/5/2022, bị cáo Trần Võ Công M đã có hành vi chuẩn bị và đem theo 02 khẩu súng là vũ khí quân dụng khi đến nhà bị cáo T thì đưa cho T 01 khẩu súng để cất giữ trong người, còn 01 khẩu súng còn lại thì bị cáo M cất giữ trong người cùng nhau đến trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để chờ rước Thạch Trung N;

Sau khi xét xử xong, N điều khiển xe để về nhà thì bị các bị cáo Lê Công D, Trần Minh T gây sự và dùng tay, chân đánh N; Bị cáo M đã sử dụng súng bắn 01 phát trúng vào mông phải của Trần Minh T gây thương tích 01%. Bị cáo M nhận thức được 02 khẩu súng mà bị cáo tàng trữ là vũ khí nguy hiểm bị cấm tàng trữ, sử dụng và khi bị cáo M dùng 01 khẩu súng bắn Trí trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang là nơi công cộng, nhất là vào thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang vừa xét xử và tuyên án xong đối với các bị cáot rong một vụ án khác.

Đối với bị cáo Trần Minh T: Sau khi Tòa án xét xử xong, Nghĩa điều khiển xe mô tô 02 bánh từ trong Tòa án đi ra ngoài trước cổng thì bị cáo D đến dùng tay, chân đánh Nghĩa. Bị cáo Trần Minh T cùng tham gia với bị cáo D dùng tay, chân đánh Nghĩa nhiều cái thì bị cáo M lấy súng bắn trúng vào mông của bị cáo T gây thương tích;

Hành vi của bị cáo M, bị cáo T thể hiện bản chất hun hăng, liều lĩnh, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang bất an trong quần chúng nhân dân;

Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo M về các tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318; Tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình Sự và bị cáo Trần Minh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình Sự là có căn cứ, đúng pháp luật;

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Trần Võ Công M có nhân thân xấu có 01 tiền sự, bị cáo là người khởi xướng việc tàng trữ và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và sử dụng khẩu súng là vũ khí quân dụng gây thương tích cho Trần Minh T với tính chất côn đồ, đồng thời bị cáo sử dụng khẩu súng trên gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M và bị cáo T thành khẩn khai báo; Riêng đối với bị cáo M sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, gia đình bị cáo M có công với cách mạng (có cha tham gia cách mạng được tặng Kỷ niệm chương chiến trường K, có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến) nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo M, Trí là có căn cứ.

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà tòa cấp sơ thẩm đã xem xét;

Vì thế Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T cho nên cần giữ y mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử;

Về án phí: Các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

. Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

1. Xử: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 18/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Công M phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội “Cố ý gây thương tích; Bị cáo Trần Minh T (N) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 304, điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 55 của Bộ luật Hình Sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Công M 03 ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tính”. Tổng hợp hình phạt của 03 tội là 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình Sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh T (N) 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2022.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Trần Võ Công M, Trần Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 18/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ