- Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ khắc đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HS-PT Ngày: 20/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiên;
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh;
Bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hoài Đức– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.
- Đại diện VKSND tỉnh B tham gia phiên toà: ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/TLPT-HS ngày 03/02/ 2023 đối với bị cáo có kháng cáo Vũ Khắc Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân huyện Yên Dũng, tỉnh B.
*Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Khắc Đ, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: thôn Nguộn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 11/12;
Con ông Vũ Đình Chiến (đã chết) và bà Vũ Thị Hợp; vợ là Triệu Thị Lan (đã ly hôn), bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, hiện bị cáo tại ngoại (vắng mặt tại phiên tòa).
- Nhân thân:
+ Ngày 29/6/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 23/12/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đ đã chấp hành xong toàn bộ 02 bản án.
Trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công ăn việc làm ổn định, biết ở các khu Công nghiệp trên địa bàn tỉnh B có các khu nhà ở công nhân thuê trọ để tài sản dễ trộm cắp. Khoảng 16 giờ ngày 21/7/2022, Vũ Khắc Đ đi xe mô tô biển kiểm soát 98 M1- 243.62, là xe mô tô của Đ từ huyện Lạng Giang, tỉnh B đến khu vực có nhiều nhà trọ của Công nhân ở xã Tiền Phong, Yên Dũng. Khi đến khu vực cổng gia đình ông Thân Văn Kim, quan sát thấy cổng không khóa, trong dãy nhà trọ vắng người qua lại, Đ dừng xe rồi dắt xe đi vào dựng xe ở sân rồi đi đến phòng trọ số 2 bên trái tính từ cổng đi vào thấy khoá cửa bằng loại khóa màu vàng, giống đặc điểm với khóa mà nhà Đ đang sử dụng. Đó là phòng trọ của anh Ly Seo Lìn và anh Ly Seo Sử thuê trọ. Đ lấy chùm chìa khóa đem theo ra mở được khoá cửa đi vào trong trộm cắp được 01 chiếc điện thoại di động của Ly Seo Lìn và 01 chiếc điện thoại di động của Ly Seo Sử để ở đầu giường cất dấu vào trong túi quần rồi đi ra ngoài, khoá cửa lại đi xe về nhà cất dấu chờ đem đi tiêu thụ.
Ngày 23/7/2022, biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện, Đ đến Cơ điều tra Công an huyện Yên Dũng đầu thú và giao nộp 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp; 01 chùm 08 chiếc chìa khóa và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M1-243.62.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng số 59/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2022 kết luận: Trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh là 2.601.000đ; Trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Redmi màu đen có là 1.960.000đ. Tổng giá trị là 4.560.000đ.
Ngày 14/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả cho anh Ly Seo Lìn 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh, trả cho anh Ly Seo Sử 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 84/CT-VKSYD ngày 21/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Vũ Khắc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân huyện Yên Dũng, tỉnh B xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Khắc Đ 07 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Án xử xong, ngày 04/01/2023, bị cáo Vũ Khắc Đ kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng.
Đại diện VKSND tỉnh B thực hành quyền công tố tại phiên toà: Bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 290 Bộ luật TTHS, Về kháng cáo của bị cáo không chấp nhận, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của các bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về sự vắng mặt của bị cáo: Bị cáo được tại ngoại, không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; Tòa án cấp phúc thẩm đã gửi Quyết định xét xử và Giấy triệu tập bị cáo qua đường Bưu điện, bị cáo đã nhận được quyết định và giấy triệu tập nêu trên.Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 290 Bộ luật TTHS để xét xử vắng mặt bị cáo tại phiên tòa như ý kiến đề nghị của đại diện VKS.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
Khoảng 16 giờ ngày 21/7/2022, tại nhà trọ của ông Thân Văn Kim ở thôn Quyết Tiến, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh B. Vũ Khắc Đ đã có hành chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh trị giá 2.601.000 đồng của anh Ly Seo Lìn và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có giá trị 1.960.000 đồng của anh Ly Seo Sử. Tổng tài sản Đ trộm cắp là 02 chiếc điện thoại trị giá 4.560.000 đồng. Bị cáo lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra mà vẫn thực hiện nên cần xác định là lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.
Bản án sơ thẩm số 84/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh B xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người có nhân thân xấu, 02 lần đã bị xử phạt về tội “trộm cắp tài sản” nay lại tiếp tục vi phạm quy định pháp luật về tội này. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt, và không cung cấp được thêm tình tiết nào giảm nhẹ nào mới để làm căn cứ xem xét xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên hình phạt của Bản án phúc thẩm
Về án phí HSPT: theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Kháng cáo của bị cáo Vũ Khắc Đ không được chấp nhận do đó bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSPT
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Khắc Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Vũ Khắc Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
/ Nguyễn Hải Vinh
Trần Thị Hà
Nguyễn Văn Nhiên
| Nơi nhận: - VKS tỉnh B; - Sở Tư pháp tỉnh B; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Cục THADS tỉnh B; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhiên |