vanban.org

Bản án 37/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy L và anh Lê Chung T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thuỳ L - Lê Chung T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 02 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Trường

Bà Lê Trường An

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Xô là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy L, sinh năm 1994 (Có mặt);

Bị đơn: Anh Lê Chung T, sinh năm 1989 (Có mặt);

Cùng cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L và anh Lê Chung T kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Do tình tình không hòa hợp nên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cải, đánh nhau, do đó cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay, không có khả năng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Hiện nay chị L không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Lê Nguyễn Chung Trạng, sinh ngày 18/02/2014 và Lê Nguyễn Khả Hân, sinh ngày 19/12/2018.

Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hân; giao cháu Trạng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; vợ chồng tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Chung T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Lê Chung T thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thùy L về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn. Anh T xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có cự cải, đánh nhau, tuy nhiên những mâu thuẫn giữa vợ chồng không trầm trọng đến mức ly hôn, hiện nay anh T vẫn còn tình cảm với chị L, các con vẫn còn nhỏ cần một gia đình đủ cha đủ mẹ nên anh T đề nghị chị L cho anh T cơ hội hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Trước yêu cầu xin ly hôn của chị L, anh T không đồng ý.

- Về con chung: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị L về con chung. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh T đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trạng, giao cháu Hân cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; vợ chồng tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị L về tài sản chung, không có ý kiến gì khác.

- Về nợ chung: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị L về nợ chung, không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy L và anh Lê Chung T xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị L xác định, do tình tình không hòa hợp nên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cải, đánh nhau, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay, không có khả năng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Hiện nay chị L không còn tình cảm với anh T nên cương quyết xin ly hôn.

Anh T xác định, mâu thuẫn giữa vợ chồng là không trầm trọng, các con còn nhỏ, anh T vẫn yêu thương chị L nên đề nghị chị L cho anh T cơ hội hàn gắn mối quan hệ hôn nhân, do đó anh T không đồng ý ly hôn với chị L.

Xét thấy, tuy anh T đề nghị hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị L nhưng anh T không đưa ra được giải pháp để hàn gắn đoàn tụ trong khi chị L cương quyết xin ly hôn với anh T. Hiện nay chị L và anh T đã sống ly thân nên chị L và anh T không thực hiện được nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và sống chung với nhau nên xác định chị L và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L và anh T ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Lê Nguyễn Chung Trạng, sinh ngày 18/02/2014 và Lê Nguyễn Khả Hân, sinh ngày 19/12/2018. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hân; giao cháu Trạng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Đối với cháu Lê Nguyễn Khả Hân: Từ khi chị L và anh T ly thân đến nay, cháu Hân do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T đồng ý giao cháu Hân cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Hân, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cháu Hân cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với cháu Lê Nguyễn Chung Trạng: Từ khi chị L và anh T ly thân đến nay, cháu Trạng do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Trạng có nguyện vọng được sống cùng với cha là anh T, chị L đồng ý giao cháu Trạng cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Trạng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cháu Trạng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T thống nhất xác định tự thỏa thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung: Chị L và anh T thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Chị L và anh T thống nhất xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy L và anh Lê Chung T.

- Về con chung:

Giao cháu Lê Nguyễn Khả Hân, sinh ngày 19/12/2018 cho chị Nguyễn Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Chung T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hân mà không ai được cản trở. Anh T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Hân được sống chung với chị L.

Giao cháu Lê Nguyễn Chung Trạng, sinh ngày 18/02/2014 cho anh Lê Chung T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thùy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trạng mà không ai được cản trở. Chị L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Trạng được sống chung với anh T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thùy L phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 30/01/2023 chị L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006065 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thùy L và bị đơn anh Lê Chung T có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ