- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Tuyết Ng - Trần Thanh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Tuyết Ng.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày 17 – 02 – 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Hồ Quốc Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Tuyết Ng, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp 9, xã Tc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp 9, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 01/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Tuyết Ng trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Thanh H tự nguyện chung sống với nhau và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 1985, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H thường có hành vi bạo lực gia đình, nhiều lần đánh đập bà có lần bà phải nhập viện. Vào năm 2021, không chịu nỗi hành vi bạo lực của ông H, bà đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu được ly hôn với ông H, trong quá trình giải quyết ông H hứa sửa đổi nên bà rút đơn và Tòa án đình chỉ vụ án, nhưng không bao lâu thì ông H lại tiếp tục đe dọa bà đã bỏ nhà đi đến nhà chị ruột ở cho đến nay. Bà Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 người con tên Trần Thanh T sinh năm 1991 và Trần Huy C sinh năm 2002, hiện cháu T và cháu C đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Ng xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Ng xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản giao nhận thông báo thụ lý vụ án ngày 18/11/2022, ông Trần Thanh H có ý kiến: Không đồng ý ly hôn nhưng ông H từ chối ký tên vào biên bản giao nhận văn bản của Tòa án và không có ý kiến đối với các vấn đề khác trong vụ án hôn nhân do bà Ng khởi kiện, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Trần Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.
Về hôn nhân: Bà Ng với ông H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1985, có đăng ký kết hôn vào năm 2002. Tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Tuyết Ng với ông Trần Thanh H được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà Ng xác định trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H có hành vi bạo lực, thường hay đánh đập bà Ng, có lần bà Ng phải nhập viện. Tại phiên tòa, bà Ng xác định không còn tình cảm với ông H và cũng không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông H; đối với ông Trần Thanh H không đồng ý ly hôn, từ chối nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt, mặc dù ông H đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của bà Ng nhưng ông H không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án và cũng không tham gia các phiên hòa giải, xét xử, điều này cho thấy ông H đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Mặt khác, vào năm 2021 bà Ng đã một lần khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án và bà Ng đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng được đoàn tụ, nhưng sau đó ông H và bà Ng vẫn chung sống không hạnh phúc nên ông H và bà Ng cùng ký Đơn xin chứng nhận với nội dung: “thời gian quá kéo dài, vợ chồng đi đến bất đồng, gia đình lủng củng không hòa hợp. Từ đó hai bên đồng thống nhứt chia tay, trả tự do cho hai bên không ai đàn áp ai, đã đồng thống nhứt không ra tòa”. Từ đó cho thấy hôn nhân của bà Ng với ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Ng, cho bà Ng được ly hôn với ông H là phù hợp.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 người con tên Trần Thanh T sinh năm 1991 và Trần Huy C sinh năm 2002. Các cháu T và C đều đã trưởng thành và không bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà Ng xác định vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với ông H không có ý kiến gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà Ng xác định vợ chồng không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với ông H không có ý kiến gì về nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phan Tuyết Ng được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (do bà Ng thuộc diện người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Tuyết Ng. Cho bà Phan Tuyết Ng được ly hôn với ông Trần Thanh H.
2. Về quyền kháng cáo: Bà Ng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - CCTHADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |