- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử cho chị Tạ Thị H ly hôn anh Trần Văn C"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04/07/2023 |
HUYỆN THÁI THỤY Độc lập – Tự do – hạnh phúc V/v: Ly hôn giữa chị H và anh C
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Tuyên và bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Bà Trần Thị Tình – kiểm sát viên. Ngày 04/7/2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐST- HNGĐ ngày 26/5/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/6/2023 giữa: - Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1994 – Có mặt Địa chỉ: thôn MK, xã DHT, huyện TT, Thái Bình - Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1988 – Vắng mặt Địa chỉ: thôn MK, xã DHT, huyện TT, Thái Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các đơn gửi Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Tạ Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng đến ngày 26/3/2012 với đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T (cũ) nay là xã DHT, huyện TT, tỉnh Thái Bình theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh, chị làm ăn cư trú ổn định tại thôn MK, xã DHT, huyện TT, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường nhưng từ năm 2015 đến nay đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp và do nhiều lần anh C đánh chị. Nhiều lần chị đã viết đơn ly hôn nhưng do được hòa giải và thương các con nên chị lại rút đơn về mong muốn vợ hòa thuận để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nuôi dạy các con, tuy nhiên chỉ được thời gian ngắn thì vợ chồng lại xảy ra mâu
thuẫn. Khoảng từ năm 2022 đến nay mâu thuẫn giữa chị và anh C căng thẳng hơn. Ngày 20/3/2023, anh C tiếp tục đánh chị và đã bị Công an xã DHT lập biên bản xử phạt hành chính. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh C. Về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Chị và anh C có hai con chung là Trần Minh T sinh ngày 19/10/2010 và Trần Khải Ph, sinh ngày 01/9/2012. Hiện nay cả hai cháu đang học tại trường THCS xã DHT. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Hiện nay chị làm công nhân, khỏe mạnh bình thường, thu nhập từ 7 đến 10 triệu đồng/tháng, ngoài ra chị còn làm nông nghiệp để tăng thu nhập nên chị đảm bảo đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng các con, chị không yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung. Hiện nay chị và anh Trần Văn C không nợ ai, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xác minh tại UBND xã Dương Hồng Thủy có nội dung: Chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C, sinh năm 1988, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 16/9/2021 chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng đến ngày 26/3/2012 mới đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh, chị làm ăn cư trú ổn định tại thôn MK, xã DHT, huyện TT, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường nhưng từ khoảng năm 2015 đến nay cuộc sống của anh, chị có nhiều mâu thuẫn, biểu hiện ở việc vợ chồng hay cãi chửi nhau. Ngày 20/3/2023, anh Trần Văn C có hành vi đánh chị Tạ Thị H bị Công an xã DHT xử phạt hành chính, đưa vào diện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã. Nay chị Tạ Thị H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, cơ sở thôn MK và Ủy ban nhân dân xã xác định mâu thuẫn giữa hai anh chị đã căng thẳng, trường hợp Tòa án hòa giải không thành căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết ly hôn. * Anh Trần Văn C vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không hòa giải được, phải đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng quy định. Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 xử cho chị Tạ Thị H ly hôn anh Trần Văn C; Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C có hai con chung là Trần Minh T sinh ngày 19/10/2010 và Trần Khải Ph, sinh ngày 01/9/2012. Áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Tạ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị Tạ Thị H không yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trần Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung; có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con, đề nghị cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết. Về tài sản chung: Do các đương sự đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị Tạ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Văn C vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Trần Văn C. [2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn: [2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ) nay là xã DHT, huyện TT, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi chửi, nhiều lần anh Trần Văn C đánh chị Tạ Thị H nên cuộc sống chung của hai anh chị luôn căng thẳng và không hạnh phúc. Anh Trần Văn Cương biết rõ chị Tạ Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng bỏ mặc không đến Tòa án làm việc nên không có giải pháp nào hòa giải cho anh chị. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Tạ Thị H ly hôn anh Trần Văn C. [2.2]. Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C có hai con chung là Trần Minh T sinh ngày 19/10/2010 và Trần Khải Ph, sinh ngày 01/9/2012. Anh Trần Văn C không đến để trình ý kiến trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Chị Tạ Thị H có đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và chứng minh đủ điều kiện nuôi dưỡng hai con chung, cả hai con chung đều có nguyện vọng ở với chị Tạ Thị H nên giao cho chị Tạ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi cả hai con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Tạ Thị H không yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trần Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết. [2.3]. Về phân chia tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [3].Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: Chị Tạ Thị Huế phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QuyÕt ®Þnh:
Áp dụng khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: 1. VÒ h«n nh©n: Xử cho chị Tạ Thị H ly hôn anh Trần Văn C; 2. Về việc nuôi dưỡng con chung: Chị Tạ Thị H và anh Trần Văn C có hai con chung là Trần Minh T sinh ngày 19/10/2010 và Trần Khải Ph, sinh ngày 01/9/2012. Giao cho chị Tạ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi cả hai con chung đủ 18 tuổi. Chị Tạ Thị H không yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trần Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết. 3. VÒ phân chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. VÒ ¸n phÝ: Chị Tạ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004395 ngày 22/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TT, chị Tạ Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 5. QuyÒn kh¸ng c¸o: Chị Tạ Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình - VKSND huyện TT; - UBND xã DHT (nơi ĐKKH) - Thi hành án dân sự huyện TT; - Lưu hồ sơ Lê Thị Hương Lan | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |