vanban.org

Bản án 37/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T xin lý hôn với anh Nguyễn Hữu V"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HNGĐ – ST
Ngày 17/5/2023.
V/v: Xin ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phạm Xuân Vinh.

2.Bà Trịnh Thị Oanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hòa Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đăk Lăk.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Nguyên –Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2023/TLST-DS ngày 17/02/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXX – HNGĐ ngày 27/3/2023, Quyết định hoãn phiên toà số 19/2023/QĐST-DS ngày 05/5/2023 giữa các đương sự :

1.Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: 70 L, T3, thị trấn P, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1985.

Địa chỉ: 70 L, T3, thị trấn P, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ nơi làm việc: Trường Trung học cơ sở E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1.Trong bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Hữu V có tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện K vào ngày 20/5/2008 trên cơ sở tự nguyện. Chúng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khác nhau về quan điểm, suy nghĩ. Anh Nguyễn Hữu V thường xuyên rượu chè, sau đó gây chuyện cãi nhau với vợ, cụ thể là vào ngày 09/02/2023 anh Vương uống rượu đánh tôi và con trai lớn khiến mẹ con tôi phải bỏ đi trong đêm. Do không còn tình cảm với nhau nên không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân, vì vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Hữu V.

-Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 đứa con chung là cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019.

Hiện nay các cháu đang sống cùng với tôi nên tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành.

-Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.Bị đơn anh Nguyễn Hữu V vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

-Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

+Đối với quan hệ hôn nhân: Căn cứ và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay có thể xác định tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V đã sống ly thân từ năm tháng 02 năm 2023 đến nay. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.

+Đối với con chung: Vợ chồng chị T, anh Vương có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019, quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước P và cháu Nguyễn Phước Thiên A. Xét thấy nguyện vọng của chị T là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của các con, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019 cho chị Lê Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

+Đối với tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019 cho chị Lê Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Hữu V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện K vào ngày 20/5/2008, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V đã đến mức trầm trọng, trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, chị T xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T, cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu V.

-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh Vương có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019. Hiện nay các con đang sống cùng mẹ, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy việc giao con chung cho chị T nuôi dưỡng là đảm bảo cho sự phát triển của con, nguyện vọng của chị T là chính đáng, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Hữu V vắng mặt nên không thể xem xét nguyện vọng của anh Vương về con chung, vì vậy cần giao cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019 cho chị Lê Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Anh Nguyễn Hữu V được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chị Lê Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Lê Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét thấy ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82 , 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị T.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu V.

-Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Hữu V có 02 con chung là cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019.

Giao cháu Nguyễn Phước P, sinh ngày 22/3/2009 và cháu Nguyễn Phước Thiên A, sinh ngày 07/02/2019 cho chị Lê Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Nguyễn Hữu V được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chị Lê Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Lê Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

2.Về án phí:

Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0016813 ngày 17/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. *Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Đắk Lắk;

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa -VKSND huyện K; -Chi cục THADS huyện K; -UBND TT P, huyện K;

(Đã ký) -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, TA.

H’ Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

H’Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Vinh Trịnh Thị Oanh

H’Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

H’Năm Bkrông *Nơi nhận:

Cỡ chữ