- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Thương"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Th.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/4/2023. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Quí.
2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 18 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2023, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Th - sinh năm 1996, có mặt.
Địa chỉ: ấp 6, xã V, huyện G, tỉnh K.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ch - sinh năm 1989, có mặt.
Địa chỉ: ấp 6, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2023, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Th như sau:
Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Ch vào năm 2014, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao vào ngày 31/7/2014.
Vợ chồng sống hạnh phúc không phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bà ly hôn là do bà mâu thuẫn với cha mẹ chồng. Bà sống chung với gia đình chồng, cha chồng của bà mỗi lần nhậu say thì hay bắt lỗi chửi mắng bà nhiều lần, bà giận có bỏ về nhà cha mẹ ruột sau đó cha chồng có nhận lỗi. Trước tết khoảng 02 tháng mẹ chồng bà dắt con bà tên Trinh đi chơi bị té về nhà bà và mẹ chồng có nói qua nói lại thì mẹ chồng giận không ăn cơm chung với bà và kêu vợ chồng bà ra ở riêng nhưng chồng bà không đồng ý. Bà cảm thấy ức chế nên mới về nhà cha mẹ ruột, sau đó chồng bà năn nỉ bà về thì cha chồng bà chửi, nói bà đi theo trai bị người ta đá đích mới quay về, khi cha chồng bà chửi, bà ghi âm lại và gửi cho gia đình bà nghe nên gia đình bà mới rước bà về.
Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Hiện vợ chồng bà không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm yêu thương gì đối với ông Nguyễn Văn Ch nên bà xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ch.
Thời gian chung sống vợ chồng bà có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 và Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020, hiện nay chồng bà đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng bà không có nợ chung.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà cương quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ch.
Về con chung: Bà xin nuôi hết 02 người con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Ch cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Ch trình bày: Ông hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kim Th về thời gian hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung, ngoài ra ông không có yêu cầu gì thêm.
Tuy nhiên, về nguyên nhân mâu thuẫn: Giữa vợ ông và cha mẹ ông có lời qua tiếng lại, vợ ông rủa trời đánh mẹ ông. Ông xác nhận giữa bà Th và cha mẹ ông có mâu thuẫn như bà Th khai là đúng sự thật.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim Th.
Về con chung: Ông xin nuôi hết 02 người con chung tên Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 và Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020 và không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông không có tài sản chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông cam đoan vợ chồng ông không có nợ chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Th cương quyết xin ly hôn và yêu cầu được nuôi người con chung tên Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020 và đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 cho ông Ch nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con, ngoài ra, bà không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Ch không đồng ý ly hôn, ông xin nuôi hai người con chung và không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì thêm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch kết hôn với nhau vào năm 2014, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 127, ngày 31/7/2014, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch là hôn nhân do mai mối, trong quá trình sống tuy chung vợ chồng bà không phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nhưng bà Th lại có mâu thuẫn với cha mẹ chồng. Bà Nguyễn Thị Kim Th cho rằng ông cha chồng bà mỗi lần nhậu say thì hay bắt lỗi chửi mắng bà nhiều lần, bà và mẹ chồng cũng có mâu thuẫn. Bà cảm thấy ức chế nên mới về nhà cha mẹ ruột, sau đó chồng bà năn nỉ bà về thì cha chồng bà chửi, nói bà đi theo trai bị người ta đá đích mới quay về nên bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 12/2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Nguyễn Văn Ch không liên lạc với nhau. Tuy ông Nguyễn Văn Ch không thống nhất ly hôn nhưng ông đã thừa nhận giữa bà Th và cha mẹ ông có mâu thuẫn như bà Th trình bày. Ngày 22/3/2023, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng bà Nguyễn Thị Kim Th cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn Ch. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là hơn 03 tháng. Trong thời gian này, ông Nguyễn Văn Ch và bà Nguyễn Thị Kim Th không tìm được tiếng nói chung nên không tự hàn gắn được. Tuy giữa vợ chồng ông bà không có mâu thuẫn đến mức trầm trọng nhưng ông Ch cũng không có động thái gì giúp bà Th và cha mẹ ông hòa thuận. Bản thân bà Th không còn muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này và không muốn hàn gắn điều đó cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim Th cương quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Ch và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Nguyễn Văn Ch, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim Th.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 và Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020, hiện nay ông Ch đang nuôi dưỡng.
Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch cùng có nguyện vọng xin nuôi con chung. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020, hiện chưa tròn 36 tháng tuổi nên cần được sự chăm sóc của người mẹ. Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Mặt khác, do bà Th có mâu thuẫn với cha mẹ chồng nên từ khi bà Th bỏ đi cho đến nay bà không có cơ hội thăm nom, chăm sóc con, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cháu Ch cho bà Th nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Kim Th.
Đối với cháu Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 bà Nguyễn Thị Kim Th thống nhất giao cho ông Ch nuôi dưỡng và ông Ch cũng có yêu cầu được nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bà Th và ông Ch giao cháu Trinh cho ông Ch tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch cam kết vợ chồng ông bà không có nợ chung và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Thị Kim Th phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0001934, ngày 12/01/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà Nguyễn Thị Kim Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Th.
Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch được ly hôn với nhau.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Ch - sinh ngày 09/7/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim Th nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Thị Việt Tr – sinh ngày 01/8/2016 cho ông Nguyễn Văn Ch tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Nguyễn Văn Ch được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông bà thực hiện quyền này.
Các đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim Th phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0001934, ngày 12/01/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |