vanban.org

Bản án 37/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liêu Thị Linh N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Liêu Thị Linh N được ly hôn với ông Lâm Minh H. Về con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn (Bà N và ông H)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liêu Thị Linh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/7/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Lê Văn Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Mộng Kiều – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Liêu Thị Linh N. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chổ ở hiện nay: Ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lâm Minh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2023, nguyên đơn bà Liêu Thị Linh N trình bày:

Năm 2007, bà Liêu Thị Linh N tự nguyện kết hôn với ông Lâm Minh H và được UBND xã A, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 167, ngày 25/12/2007. Sau khi đăng ký kết hôn, bà N và ông H chung sống với nhau tại ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẽ. Mỗi lần đi nhậu về ông H thường xuyên chửi bới bà và cha mẹ bà. Khoảng tháng 01/2023 bà bỏ về nhà cha mẹ ở cho đến nay.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông H có hai người con chung tên Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Liêu Thị Linh N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:

Về hôn nhân: Bà Liêu Thị Linh N yêu cầu ly hôn với ông Lâm Minh H.

Về con chung: Bà Liêu Thị Linh N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả hai người con chung tên Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lâm Minh H: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Lâm Minh H, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Lâm Minh H vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Nguyên đơn bà Liêu Thị Linh N có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn ông Lâm Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Liêu Thị Linh N đối với bị đơn ông Lâm Minh H, giải quyết cho bà Liêu Thị Linh N và ông Lâm Minh H ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Về con chung: Hiện nay, cháu Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015 đang do bà Liêu Thị Linh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cả hai cháu đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Liêu Thị Linh N. Bà Liêu Thị Linh N cũng có công việc và nguồn thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện nuôi cả hai con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết giao cháu Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015 cho bà Liêu Thị Linh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cả hai cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lâm Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Liêu Thị Linh N không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Liêu Thị Linh N tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Liêu Thị Linh N yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà Liêu Thị Linh N yêu cầu ly hôn với ông Lâm Minh H; Về con chung: Bà Liêu Thị Linh N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Lâm Minh Đ và Lâm Ngọc Bảo H1 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Liêu Thị Linh N có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Đối với bị đơn ông Lâm Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Liêu Thị Linh N và ông Lâm Minh H tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã A, huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 167, ngày 25/12/2007 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Liêu Thị Linh N và ông Lâm Minh H là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa bà Liêu Thị Linh N và ông Lâm Minh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tình tình không hòa hợp, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Cho nên bà Liêu Thị Linh N đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Minh H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Lâm Minh H không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Liêu Thị Linh N yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Minh H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liêu Thị Linh N và giải quyết cho bà Liêu Thị Linh N được ly hôn với ông Lâm Minh H.

Về con chung: Bà Liêu Thị Linh N và ông Lâm Minh H có 02 con chung là cháu Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015. Bà Liêu Thị Linh N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Xét thấy, hiện nay cả hai cháu Lâm Minh Đ và Lâm Ngọc Bảo H1 đang sống chung với bà Liêu Thị Linh N và được bà Liêu Thị Linh N nuôi dưỡng, chăm sóc tốt; cả hai cháu đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Liêu Thị Linh N. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cả hai cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả hai cháu Lâm Minh Đ và Lâm Ngọc Bảo H1 cho bà Liêu Thị Linh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ, cháu H1 đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lâm Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Liêu Thị Linh N không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Liêu Thị Linh N tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Liêu Thị Linh N phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liêu Thị Linh N.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Liêu Thị Linh N được ly hôn với ông Lâm Minh H.

- Về con chung:

Giao cháu Lâm Minh Đ, sinh ngày 02/01/2009 và cháu Lâm Ngọc Bảo H1, sinh ngày 22/9/2015 cho bà Liêu Thị Linh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lâm Minh Đ và cháu Lâm Ngọc Bảo H1 đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Lâm Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Liêu Thị Linh N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, ông Lâm Minh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Liêu Thị Linh N tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Liêu Thị Linh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005850 ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Liêu Thị Linh N đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ