- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN VÀ TRANH CHẤP VỀ NUÔI CON"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Thạch Phia.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/3/2023 “V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Đương;
Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2022/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thạch Ph, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp Sóc Ch, xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
- Bị đơn: Chị Kiên Thị Thanh H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp Sóc Ch, xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Thạch Phia trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2004, anh và chị Kiên Thị Thanh H, được sự mai mối của hai bên gia đình nên tiến tới hôn nhân, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới anh và chị H mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị H, không quan tâm chồng còn, ghen tuông và đánh anh nhiều lần nên vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay tình cảm không còn. Nay anh yêu cầu giải quyết cho anh được ly hôn với chị Kiên Thị Thanh H.
- Về nuôi con tên: Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005 theo nguyện vọng của con, theo cha thì cha nuôi dưỡng, theo vợ thì vợ nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ph và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Ph không tranh chấp, không khởi kiện.
- Về số nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Anh Ph không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bị đơn chị Kiên Thị Thanh H vắng mặt lần thứ hai không lý do nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Ph được ly hôn với chị Kiên Thị Thanh H. Về con chung tên Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005 hiện đang đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi ly hôn anh Ph và chị H yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Ph có cung cấp cho Tòa án tờ tường trình nội dung thể hiện cháu H có nguyện vọng sống với anh Ph. Căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Ph được quyền nuôi con chung tên Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và số nợ phải thu phải trả, anh Ph và chị H không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh Thạch Ph phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Phần kiến nghị: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Kiên Thị Thanh H là bị đơn trong vụ án nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo quy định.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Thạch Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với chị Kiên Thị Thanh H, địa chỉ: Ấp Sóc Ch, xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
Về hôn nhân: Vào năm 2004 anh Ph và chị H xác lập hôn nhân, sau khi cưới anh Ph và chị H cùng đến Ủy ban nhân dân xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh để đăng ký kết hôn theo quy định. Từ đó xác định hôn nhân giữa anh Ph và chị H là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Ph trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là do chị H, không quan tâm chồng con, ghen tuông và đánh anh nhiều lần nên giữa vợ chồng anh thường xuyên xảy ra cự cãi và đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh cương quyết ly hôn với chị Kiên Thị Thanh H.
Quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày: Quá trình chung sống do anh Ph có người phụ nữ khác bên ngoài nên vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay anh Ph yêu cầu ly hôn thì chị không đồng ý ly hôn do còn thương anh Ph.
Xét thấy trong quá trình chung sống, giữa anh Ph và chị H có xảy ra cự cãi về lối sống nên vợ chồng anh, chị đã sống ly thân từ khoảng năm 2017 cho đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, anh Ph xác định không còn tình cảm với chị H, anh cương quyết xin ly hôn với chị H. Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa anh Ph và chị H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Ph về hôn nhân xử cho anh Thạch Ph được ly hôn với chị Kiên Thị Thanh H.
Về nuôi con: Anh Ph và chị H có 01 con chung tên Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005. Quá trình giải quyết vụ án, anh Ph và chị H đều trình bày về con chung theo nguyện vọng của con theo anh Ph thì chị H đồng ý để anh Phia nuôi dưỡng, theo chị H thì anh Ph đồng ý để chị H nuôi dưỡng. Ngày 28/12/2022, anh Ph có nộp cho Tòa án tờ tường trình của cháu H, nội dung thể hiện cha cháu tên Thạch Ph và mẹ cháu tên Kiên Thị Thanh H. Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống chung với anh Ph. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005 cho anh Thạch Ph được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ph và chị H không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng:
Anh Ph và chị H không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Thạch Ph phải chịu án phí theo quy định.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 273 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Thạch Phia.
- Về hôn nhân: Xử cho anh Thạch Ph được ly hôn với chị Kiên Thị Thanh H.
- Về nuôi con: Anh Thạch Ph được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Thạch Thị Thanh H, sinh ngày 26/10/2005 khi ly hôn.
Chị Kiên Thị Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ph và chị H không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Anh Ph và chị H không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ phải thu, phải trả của vợ chồng của vợ chồng: Anh Ph và chị H không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Thạch Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Phia đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0012596, ngày 15 tháng 11 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Anh Ph đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Thạch Ph có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Kiên Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương Hà |