- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Quỳnh N đối với chị Trần Thị Cẩm T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2023/DS-ST Ngày: 19-5-2023 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Vui;
2. Ông Lê Trung Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Bích Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Quỳnh N, sinh năm: 1995; địa chỉ: Số nhà 272, tổ 1A, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị vắng mặt.
Bị đơn: Chị Trần Thị Cẩm T, sinh năm: 1998; địa chỉ: Đường DH2, tổ 14, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14-10-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Thị Quỳnh N trình bày:
Chị và chị T không có quan hệ họ hàng, chỉ quen biết nhau trên mạng xã hội. Chị tham góp hụi do chị T làm thảo hụi, cụ thể như sau:
+ Dây 1: Chị T lập nhóm zalo là “15n3tr đấu 11p 11/8” nghĩa là: Hụi 3.000.000 đồng/15 ngày, hụi mở ngày 11/8/2022 dương lịch, gồm 11 phần. Chị tham gia 01 phần tên “Quynhnhu”, đóng hụi được 03 kỳ được số tiền 5.840.000 đồng; hụi này chị chưa kêu hốt nhưng khi tham gia chị T yêu cầu đóng trước tiền thảo hụi (tiền cò) 1.500.000 đồng; nên dây hụi này chị T còn nợ chị số tiền là 7.340.000 đồng.
+ Dây 2: Chị T lập nhóm zalo là “Đ3 3n3tr-ĐẤU 10p 8/9” nghĩa là: Hụi 3.000.000 đồng/03 ngày, hụi mở ngày 08/9/2022 dương lịch, gồm 10 phần. Chị tham gia 01 phần tên “quynhnhu”, đóng hụi được 06 kỳ được số tiền 15.460.000 đồng; dây hụi này được miễn tiền thảo hụi, nên chị T còn nợ chị số tiền là 15.460.000 đồng.
+ Dây 3: Chị T lập nhóm zalo là “N500 cđ 400 26p 10/9” nghĩa là: Hụi 500.000 đồng/ngày, đóng hụi sống cố định 400.000 đồng, hụi mở ngày 10/9/2022 dương lịch, gồm 26 phần. Chị tham gia 02 phần tên “Quynhnhu”. 01 phần chị đóng hụi được 06 kỳ, kêu hốt được số tiền 10.600.000 đồng, chị T đã đăng hụi cho chị, chị đã đóng được 08 kỳ hụi chết còn nợ lại 11 kỳ hụi chết với số tiền 5.500.000 đồng.
Còn 01 phần chị đóng được 15 kỳ hụi sống được số tiền 6.000.000 đồng, chị chưa kêu hốt nhưng khi tham gia chị T yêu cầu đóng trước tiền thảo hụi (tiền cò) 200.000 đồng cho phần hụi này; nên phần hụi này chị T còn nợ chị số tiền là 6.200.000 đồng.
Cấn trừ hụi chết 5.500.000 đồng, dây hụi này chị T còn nợ chị số tiền 700.000 đồng.
+ Dây 4: Chị T lập nhóm zalo là “N200 đấu đỉnh 41p 13/9” nghĩa là: Hụi 200.000 đồng/ngày, hụi mở ngày 13/9/2022 dương lịch, gồm 41 phần. Chị tham gia 01 phần tên “quynhnhu”, đóng hụi được 12 kỳ được số tiền 2.110.000 đồng; chị chưa kêu hốt nhưng khi tham gia chị T yêu cầu đóng trước tiền thảo hụi (tiền cò) 100.000 đồng; nên dây hụi này chị T còn nợ chị số tiền là 2.110.000 đồng.
+ Dây 5: Chị T lập nhóm zalo là “3N3tr cđ 2400 xk 17/9” nghĩa là: Hụi 3.000.000 đồng/03 ngày, xếp trước kỳ hốt do hụi viên chọn từ đầu, hụi mở ngày 17/9/2022 dương lịch, gồm 12 phần. Chị tham gia 01 phần tên “Quynhnhu”, được xếp hốt kỳ thứ 9; chị đã đóng hụi được 03 kỳ được số tiền 7.2000.000 đồng; chị chưa kêu hốt nhưng khi tham gia chị T yêu cầu đóng trước tiền thảo hụi (tiền cò) 900.000 đồng; nên dây hụi này chị T còn nợ chị số tiền là 8.100.000 đồng.
+ Dây 6: Chị T lập nhóm zalo là “D1 N3tr xk 12p 22/9” nghĩa là: Hụi 3.000.000 đồng/ngày, xếp trước kỳ hốt do hụi viên chọn từ đầu, hụi mở ngày 22/9/2022 dương lịch, gồm 12 phần. Chị tham gia 02 phần tên “quynhnhu”, được xếp hốt kỳ thứ 6 và kỳ 12; chị đã đóng hụi được 03 kỳ cho 02 phần hụi được số tiền 16.200.000 đồng; chị chưa kêu hốt nhưng khi tham gia chị T yêu cầu đóng trước tiền thảo hụi (tiền cò) cho 02 phần hụi cho 2 phần hụi là 1.800.000 đồng; nên dây hụi này chị T còn nợ chị số tiền là 18.000.000 đồng.
+ Dây 7: Chị T lập nhóm zalo là “3n2tr D21 đấu 13p 6/9” nghĩa là: Hụi 2.000.000 đồng/03 ngày, hụi mở ngày 06/9/2022 dương lịch, gồm 13 phần. Chị tham gia 01 phần tên “Quynhnhu”, chị đóng hụi được 06 kỳ, đến kỳ thứ 7 kêu hụi 1.680.000 đồng, hốt được số tiền 22.080.000 đồng, nhưng chị T chưa đăng hụi cho chị, cấn trừ 06 kỳ hụi chết 12.000.000 đồng, chị T còn nợ lại chị số tiền 10.080.000 đồng.
+ Dây 8: Chị T lập nhóm zalo là “N500 đấu D20 20p 5/9” nghĩa là: Hụi 500.000 đồng/ngày, hụi mở ngày 05/9/2022 dương lịch, gồm 20 phần. chị tham gia 02 phần tên “quynhnhu”. 01 phần chị đóng hụi được 16 kỳ, đến kỳ 17 kêu 50.000 đồng hốt được số tiền 9.350.000 đồng, chị T đã đăng hụi cho chị xong, chị đã đóng xong hụi chết; phần hụi này chị T không còn nợ chị.
Còn 01 phần chị đóng được 19 kỳ hụi sống được số tiền 9.500.000 đồng, chị hốt cuối cùng, nhưng trừ 1 kỳ hụi chết 500.000 đồng của phần hụi trên, còn lại 9.000.000 đồng nhưng chị T chưa đăng hụi cho chị; phần hụi này chị T nợ chị 9.000.000 đồng.
Ngày 28/9/2022 chị và chị T tính toán tiền hụi với nhau, chị T nợ chị tổng cộng là 70.790.000 đồng; khấu trừ tiền hụi ngày 28/9/2022 là 6.462.000 đồng gồm 2 phần hụi của dây 3 là 900.000 đồng, một phần hụi của dây 4 là 162.000 đồng, 2 phần hụi của dây 6 là 5.400.000 đồng, chị T trả cho chị được 10.000.000 đồng; nên chốt lại chị T còn nợ chị số tiền hụi là 54.328.000 đồng, tính chẵn là 54.000.000 đồng.
Sau đó chị T trả cho chị được 2 lần, mỗi lần 300.000 đồng vào ngày 30-11-2022 và 30-12-2022. Nay chị yêu cầu chị T trả cho chị số tiền hụi còn nợ là 53.400.000 đồng, chị không tính yêu cầu tính lãi.
Bị đơn chị Trần Thị Cẩm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, mẹ ruột chị là bà Lâm Thị Huỳnh Nh sống chung với chị có trực tiếp nhận và ký tên các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên không có văn bản ghi ý kiến của mình trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng:
Chị N khởi kiện yêu cầu chị T trả tiền nợ tiền hụi, căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Chị N có đơn đề nghị vắng mặt, chị T tuy vắng mặt nhưng Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để bảo đảm cho việc xét xử vắng mặt, là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Giữa chị N và chị T có tham gia góp hụi với nhau là thật, hình thức tham gia không trực tiếp mà thông qua ứng dụng Zalo, có thể hiện đầy đủ các danh sách, thành viên tham gia góp hụi, số tiền, ngày tháng năm mở hụi, cách thức chơi hụi; việc đăng, đóng tiền hụi được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua “STK: 1012610760 VIETCOMBANK Trần Thị Cẩm T”.
Ngày 28-9-2022 giữa chị N và chị T đã tính toán với nhau thông qua tin nhắn của ứng dụng Zalo, chị T nợ chị N tiền hụi 54.000.000 đồng. Sau đó chị T trả cho chị N 02 lần với số tiền 600.000 đồng vào các ngày 30-11-2022 và 30-12-2022, còn nợ lại 53.400.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ cho chị T được tiếp cận với các chứng cứ do chị N giao nộp, tuy nhiên chị T không thể hiện ý kiến của mình, cố tình vắng mặt không có lý do; điều đó thể hiện được rằng chị T thừa nhận số nợ 53.400.000 đồng và không có ý kiến gì khác. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N buộc chị T có trách nhiệm trả cho chị N số tiền hụi 53.400.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 16, 17, 24 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; chị N không yêu cầu tính lãi nên ghi nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét đề nghị này phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Quỳnh N đối với chị Trần Thị Cẩm T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Buộc chị Trần Thị Cẩm T có trách nhiệm trả cho chị Cao Thị Quỳnh N số tiền 53.400.000 (Năm mươi ba triệu bốn trăm nghìn) đồng; ghi nhận chị N không yêu cầu tính lãi.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trần Thị Cẩm T phải chịu là 2.670.000 (Hai triệu sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Chị Cao Thị Quỳnh N không phải chịu án phí; hoàn trả lại cho chị N 1.356.000 (Một triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012679 ngày 17-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân H. D; - Chi cục THADS H. D; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM .. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Huỳnh Châu |