- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Phiên phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HSST Ngày 25/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Bà Bùi Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Lê Xuân Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022; đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tấn P, sinh năm 2001; Nơi sinh: Bến Tre; Nơi cư trú: số W, ấp TQ A, xã BT, huyện TP, tỉnh BT. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1974; Tiền án: không; Tiền sự: có 02 tiền sự. Ngày 31/12/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt; Ngày 11/02/2022 bị Công an huyện Thạnh Phú ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/Qđ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/4/2022. Bị cáo có mặt tại tòa.
Bị hại:
1. Trần Thị Thanh T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: số M/B, khu phố B, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT (có mặt).
2. Dương Văn H, sinh năm 1968; Nơi cư trú: ấp QK, x QĐ, huyện TP, tỉnh BT (xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1988; Nơi cư trú: số M/H, ấp TK, x MH, huyện TP, tỉnh BT (xin vắng mặt).
2. Lê Vũ T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: số K, khu phố A, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt).
3. Bùi Thanh H, sinh năm 1999; Nơi cư trú: số O, khu phố B, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt).
Người l ch ng
1. Trương Văn T, sinh năm 1962; trú tại: ấp QK, xã QĐ, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt).
2. Trương Hoài P, sinh năm 1983; trú tại: ấp QK, xã QĐ, huyện TP, tỉnh BT (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 28/11/2021, Nguyễn Tấn P điều khiển xe gắn máy không rõ biển số (bị cáo mượn của bà Lê Thị T) đi từ xã AT, huyện TP đến thị trấn TP, huyện TP. Khi đến đoạn thuộc khu phố B, thị trấn TP thì phát hiện cơ sở mua bán hải sản của chị Trần Thị Thanh T có để bao cua, trọng lượng 12 kg, không người trong coi nên bị cáo dừng xe ở lề đường, đi bộ đến cửa rào lén lấy bao cua để lên xe chạy về thị trấn Thạnh Phú. Bị cáo bán cho Lê Vũ T 11 kg giá 400.000 đồng, còn lại khoảng 4 đến 5 con cua bị cáo cho Bùi Thanh H.
Trong quá trình điều tra hành vi trộm cua của chị T, bị cáo P tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 10/12/2021, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở ấp TL, xã BT, huyện TP bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC vào ngày 31/12/2021 với số tiền 1.500.000 đồng.
Lần thứ 2: Ngày 20/12/2021, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở khu phố A, thị trấn TP, huyện TP bị Công an huyện Thạnh Phú ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/Qđ-XPVPHC vào ngày 11/02/2022 với số tiền 1.500.000 đồng.
Đến đêm ngày 23/02/2022 bị cáo điều khiển xe mô tô không biển số, loại wave của Nguyễn Văn S cho trước đó để tìm gà bắt trộm. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/02/2022, bị cáo phát hiện chuồng dê của ông Dương Văn H ở ấp QK, xã QĐ, huyện TP có gà nên bị cáo vào lén lấy trộm 01 con gà trên đường tẩu thoát thì bị bắt quả tang và giao cho công an xã Quới Điền xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- 01 nón lưỡi trai màu đen xám, không nh n hiệu, 01 áo sơ mi tay dài, sọc cato màu xanh đen, nh n hiệu Akey, size 5XL.
- 01 đĩa DVD chứa đoạn video có tên file OSBZ 8877, kích thước 1.330 KB, độ dài 14 giây, video ghi lại hình ảnh Phiên trôm cua.
- 01 xe mô tô hai bánh không rõ nhãn hiệu, kiểu dáng wave, không biển số, không rõ số máy, số khung.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 136/KL-HĐĐG ngày 27/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xác định: 12 kg cua đực và cua cái thịt, trọng lượng mõi con từ 0,3 đến 0,5 kg. Qua khảo sát thị trường có giá 265.000 đồng/kg. thành tiền 3.180.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 15/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xác định: 01 con gà trống nòi, màu lông vàng- đen – đỏ, trọng lượng 3,1 kg. Qua khảo sát thị trường có giá 90.000 đồng/kg, thành tiền 279.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 166/2022/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: xe mô tô hai bánh, không biển số, kiểu dáng Wave, màu sơn đen. Không giám định được số ký tự nguyên thủy của số khung, số máy do bị rỉ sét.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 06/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn P khai: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị bức cung, nhục hình, lời khai của bị cáo trong hồ sơ là tự nguyện. Vào rạng sáng ngày 28/11/2021 bị cáo đi chơi từ An Thạnh về thị trấn Thạnh Phú khi đi ngang qua vựa cua chị Trần Thị Thanh T, bị cáo thấy có bịt cua để gần cửa nên bị cáo đi vào lấy bịch cua để lên xe chạy về thị trấn Thạnh Phú, bị cáo bán bịch cua cho Lê Vũ T với giá 400.000 đồng, còn lại khoảng 4 đến 5 con bị cáo cho Bùi Thanh H. Bị cáo có thực hiện hành vi trộm ở xã Bình Thạnh và bị xử phạt hành chính. Bị cáo trộm ở thị trấn Thạnh Phú cũng bị xử phạt hành chính, hai lần bị xử phạt bị cáo không nhớ thời gian. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/02/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô của Nguyễn Văn S đi từ Quới Điền về nhà trên đường về bị cáo phát hiện chuồng dê của ông Dương Văn H ở ấp QK, xã QĐ, huyện TP có gà nên bị cáo vào lén lấy trộm 01 con gà trên đường tẩu thoát thì bị bắt quả tang và giao cho công an xã Quới Điền xử lý.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Bảo lưu toàn bộ Cáo trạng đ truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra Công an huyện Thạnh Phú đ hoàn trả cho bị hại H 02 con gà. Bị hại H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Bị hại Trần Thị Thanh T yêu cầu bị cáo bồi thường 3.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Buộc bị cáo bồi thường cho chị T 3.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 nón lưỡi trai màu đen xám, không nhãn hiệu, 01 áo sơ mi tay dài, sọc cato màu xanh đen, nh n hiệu Akey, size 5XL; 01 xe mô tô hai bánh không rõ nhãn hiệu, kiểu dáng wave, không biển số, không rõ số máy, số khung.
Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD chứa đoạn video có tên file OSBZ 8877, kích thước 1.330 KB, độ dài 14 giây, video ghi lại hình ảnh Phiên trôm cua.
Bị cáo Nguyễn Tấn P nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Thạnh Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhân chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại tòa phù hợp với lời khai của bị hại về đặc điểm tài sản cũng như vị trí, thời gian để tài sản mà bị cáo trộm của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 28/11/2021 đến ngày 24/02/2022 bị cáo Nguyễn Tấn P nhiều lần trộm cắp tài sản, cụ thể: Ngày 28/11/2021 trộm 12 kg cua thịt, trị giá 3.180.000 đồng của chị Trần Thị Thanh T; Ngày 24/02/2022 bị cáo trộm của ông Dương Văn H 01 con gà trống nòi, trọng lượng 3,1 kg với giá trị tài sản 279.000 đồng, mặc dù đ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản trước khi bị cáo thực hiện hành vi trộm gà của bị hại H. Tổng giá trị hai lần bị cáo thực hiện hành vi trộm là 3.459.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn P đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn nên áp dụng cho bị cáo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Tấn P thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về lượng hình: Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đ thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đ lợi dụng lúc bị hại thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại và thực hiện hành vi vào ban đêm lúc bị hại nghĩ ngơi để thực hiện hành vi phạm tội, trên thực tế bị cáo đ thực hiện việc chiếm đoạt được tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi. Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo thực hiện hai hành vị chiếm đoạt tài sản của hai bị hại, bị cáo có nhân thân xấu, có hai tiền sự nên với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra Công an huyện Thạnh Phú đ hoàn trả cho bị hại H con gà. Bị hại H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Bị hại Trần Thị Thanh T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị cua bị trộm là 3.000.000 đồng, bị cáo P đồng ý nên buộc bị cáo bồi thường cho chị T giá trị cua là 3.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
01 nón lưỡi trai màu đen xám, không nh n hiệu, 01 áo sơ mi tay dài, sọc cato màu xanh đen, nh n hiệu Akey, size 5XL của bị cáo Phiên, tài sản đ qua sử dụng , bị cáo không nhận lại nên tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô hai bánh không rõ nhãn hiệu, kiểu dáng wave, không biển số, không rõ số máy, số khung xe của Nguyễn Văn S cho bị cáo P bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm nên tịch thu tiêu hủy.
01 đĩa DVD chứa đoạn video có tên file OSBZ 8877, kích thước 1.330 KB, độ dài 14 giây, video ghi lại hình ảnh Phiên trộm cua nên lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Tấn P nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đ cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các vấn đề khác Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn P bồi thường cho bị hại Trần Thị Thanh T 3.000.000 đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 nón lưỡi trai màu đen xám, không nh n hiệu, 01 áo sơ mi tay dài, sọc cato màu xanh đen, nh n hiệu Akey, size 5XL; 01 xe mô tô hai bánh không rõ nhãn hiệu, kiểu dáng wave, không biển số, không rõ số máy, số khung.
Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD chứa đoạn video có tên file OSBZ 8877, kích thước 1.330 KB, độ dài 14 giây, video ghi lại hình ảnh Phiên.
Theo quyết định chuyển chứng số 25/QĐ-VKS ngày 06/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú
4. Về án phí: Áp dụng vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Tấn P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tấn P phải nộp 300.000 đồng.
5. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tòa án tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng HSNV CA tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng HSNV CA huyện Thạnh Phú (1b); - VKSND huyện Thạnh Phú (1b); - Chi Cục THADS huyện Thạnh Phú (1b); - Bị cáo (1b); - UBND xã Bình Thạnh; - Lưu: HS; VP; KTNV (5b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩ phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Hồng Thúy |