vanban.org

Bản án 37/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 22/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tich - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HSST;
Ngày: 22/6/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

h

h n – h a hi n a: Ông Nguyễn Cao Tuấn;

i h nh n d n:

Ông: Đỗ Công Minh;

Ông: Nguyễn Văn Vui;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ò C ng Đ ng – t nh Ti n iang tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 131/2022/QĐST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh năm xxxx, tại V; Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện L, tỉnh V; Nghề nghiệp tài xế; Trình độ văn hóa 8/12; Dân tộc kinh; Giới tính nam; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Văn Q sinh năm xxxx và bà Nguyễn Thị Ích E sinh năm xxxx; Vợ con chưa có; Tiền án không; Tiền sự không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/01/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

* N i h i: Nguyễn Hoàng N – sinh năm xxxx;

Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt);

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị X – sinh năm xxxx;

Địa chỉ: Ấp G xã T, huyện G, tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt);

* N i là hứn :

1/ Nguyễn Nhựt Thanh N – sinh năm xxxx;

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện G, tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt);

2/ Huỳnh Văn P – sinh năm xxxx;

Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện G, tỉnh T (vắng mặt không lý do);

- 2 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 17/6/2021, bị cáo Trần Văn Đ điều khiển xe tải từ thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa về đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Khi đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị cáo Đ gặp hai thanh niên tên N và T là bạn bè quen biết với Đ, nhưng Đ chỉ biết ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể. H điều khiển xe ô tô 4 chỗ (không rõ biển số, nhãn hiệu) chở Tvà bị cáo Đ về nhà trọ H, thuộc ấp Gò Lức, xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang để bị cáo Đ nghỉ ngơi (do bị cáo Đ có thuê phòng trọ tại đây). Khi đi bị cáo Đ có đem theo một con dao (loại dao Mèo), bị cáo mua trên mạng (dao dài khoảng 50 đến 60 cm, phần cán dao bằng gỗ dài khoảng 15 cm dạng tròn, phần lưỡi dao dài khoảng 40 cm bằng kim loại màu đen có phần lưỡi sắc bén, phần vỏ của dao bằng gỗ hình dẹt dài khoảng 45cm) để đem về cất giữ tại phòng trọ. Đến khoảng 00 giờ ngày 18/6/2021, bị cáo Đ về đến nhà trọ H, lúc này bị cáo Đ đi vào nhà trọ và đem dao vào phòng trọ cất và có rủ N và T vào phòng trọ uống nước. Khi đến cửa phòng thì thấy cửa khóa trong, có dép nam nữ ở ngoài, bị cáo Đ gõ cửa nhưng không thấy ai trả lời, nên bị cáo Đ ra xe lấy 01 cây gậy bóng chày có sẵn trên xe ô tô, phá lam cửa phòng trọ thì nhìn thấy Nguyễn Nhựt Thanh N (N là bạn gái của bị cáo Đ) và Nguyễn Hoàng N đang nằm trên gác phòng trọ. Lúc này N đi xuống dưới mở cửa phòng, N và T giữ N lại, bị cáo Đ bức xúc việc có người đàn ông khác ngủ chung phòng trọ với N nên cầm gậy bóng chày leo lên gác nhưng bị N đạp bị cáo Đ té xuống đất, bị cáo Đ liền cầm con dao “mèo” đi lên gác chém 04 đến 05 cái trúng vào người N gây thương tích, chém cụ thể ở vị trí nào trên cơ thể N thì bị cáo Đ không nhớ rõ, bị cáo Đ làm rớt con dao mèo xuống sàn, lúc này bị cáo Đ tiếp tục dùng tay phải đánh trúng vào người của N 1 cái. Sau đó, bị cáo Đ cầm dao mèo và gậy bóng chày cùng với N và Tra xe ô tô chạy về thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, khi đi bị cáo Đ có bỏ lại hiện trường 01 chiếc dép nhựa màu xanh, 01 chiếc dép nhựa màu đỏ, 01 mũ lưỡi trai. Trên đường đi về thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đến cầu Chợ Gạo thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo Đ xuống xe vứt dao mèo và gậy bóng chài xuống sông Chợ Gạo. Sau đó bị cáo Đ, T, N cùng về thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Đ tiếp tục chạy xe tải, còn N và T thì bị cáo không rõ. Theo hồ sơ bệnh án ngoại khoa số 21029418 ngày 18/6/2021 của Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang xác nhận thương tích của nạn Nguyễn Hoàng N như sau:

- Vết thương mặt trước dưới cẳng chân trái kích thước 06cm; đứt động mạch chày trước, thần kinh mác, gân cơ chày trước trái;

- Vết thương gối phải kích thước 05 cm, đứt cánh trong bánh chè phải;

- Vết thương cánh tay trái kích thước 04 x 06 cm;

- Vết thương hông lưng trái (03 vết): 06 cm + 07 cm + 8 cm rách da. Tại kết luận giám định số 297/2021/TgT ngày 22/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang có kết luận như sau: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT

- 3 -

ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định nạn nhân Nguyễn Hoàng N là: 21 % (Hai mươi mốt phần trăm) theo nguyên tắc cộng tại Thông tư. Xác định vật gây thương tích: Thương tích do vật sắc gây ra.

Ngày 09/02/2022 bị hại là anh Nguyễn Hoàng N có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình là bị cáo Trần Văn Đ

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS.GCĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố vẫn giữ y quan điểm về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Vật chứng vụ án: đề nghị tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc dép màu xanh, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu.

- 01 (một) chiếc dép màu đỏ, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu.

- 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ, hai bên mũ có thêu chữ màu vàng “THẮT CHẶT TÌNH ANH EM” và số “64”, phía sau mũ có thêu chữ màu vàng “VẠN DẶM BÌNH AN”, phía trước có thêu chữ màu xanh “TỔNG HỘI LÁI XE MIỀN NAM”, trên mũ có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan cảnh sát điều tra bị cáo Trần Văn Đ và bị hại Nguyễn Hoàng N thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bị hại chi phí điều trị thương tích với tổng số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với con dao mà bị cáo Trần Văn Đ dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Hoàng N, sau khi gây thương tích cho bị hại xong trên đường về bị cáo Đ đã vứt xuống sông Chợ Gạo thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tìm kiếm nhưng không thu giữ được, do đó cho bị cáo Đ nhận dạng vật tương đồng để xác định hung khí mà bị cáo dùng để gây thương tích cho anh N. Qua nhận dạng bị cáo Đ xác định hung khí mà bị cáo gây thương tích cho bị hại N là 01 (một) con dao (loại dao mèo) có phần cán và vỏ dài khoảng 60 cm, phần cán dao bằng gỗ dài khoảng 15cm dạng tròn, phần lưỡi dao dài khoảng 40 cm bằng kim loại màu đen có phần lưỡi sắc bén, phần vỏ của dao bằng gỗ hình dẹt dài khoảng 45 cm.

- 4 -

Đối với 02 người thanh niên tên N và T (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và xe ô tô mà H sử dụng để chở bị cáo Đ về phòng trọ H. Quá trình điều tra, bị cáo Đ không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của N và T, đồng thời xe ô tô do N điều khiển chở bị cáo Đ, bị cáo cũng không nhớ rõ thông tin cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với việc bị cáo làm hư hỏng lam thông gió phòng trọ của bà Nguyễn Thị Xh. Quá trình điều tra bà X Cho rằng thiệt hại tài sản không lớn và bà đã sửa chữa xong nên bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo Đ nên đề nghị ghi nhận.

- Ý kiến của những người tham gia tố tụng: + Bị cáo không có ý kiến tranh luận. + Bị cáo nói lời nói sau cùng: Do nóng giận, bộc phát nhất thời nên bị cáo gây thương tích cho anh N, bị cáo cảm thấy ăn năn hối hận, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Bị cáo Trần Văn Đ khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, thương tích để lại trên người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/6/2021, khi bị cáo Trần Văn Đ về đến phòng trọ thuộc nhà trọ H (phòng trọ này do bị cáo và chị H thuê ở chung từ trước), bị cáo Đ thấy bị hại Nguyễn Hoàng N nằm ngủ chung với chị Nguyễn Nhựt Thanh N, là bạn gái bị cáo trên gác trọ nên bị cáo cầm gậy bóng chài leo lên gác thì bị anh N đạp bị cáo té xuống đất, lúc này bị cáo Đ lấy con dao dài khoảng 50 đến 60 cm, phần cán dao bằng gỗ dài khoảng 15 cm dạng tròn, phần lưỡi dao dài khoảng 40 cm bằng kim loại màu đen có phần lưỡi sắc bén, là hung khí nguy hiểm leo lên gác trọ chém nhiều cái vào người anh Nguyễn Hoàng N gây thương tích 21%. Tại khoản 1 Điều 134 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến dưới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm” …;

- 5 -

Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ bản tính xem thường pháp luật, sức khỏe của người khác, bị cáo đã dùng con dao (loại dao mèo) là hung khí nguy hiểm chém nhiều cái vào người anh N gây thương tích 21%. Hành vi, hậu quả thực hiện tội phạm của bị cáo cần phải có một mức án tương xứng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe của người khác và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường khắc phục hậu quả; Bị hại có đơn xin bãi nại và xin cho bị cáo được hưởng án treo; Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Có nơi cư trú rõ ràng; Phạm tội do nóng giận tức thời; Ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú và gia đình bị cáo hiện gặp khó khăn về kinh tế có xác nhận của chính quyền địa phương đồng thời trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đồng thời bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần cho bị cáo hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo và bị hại thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bị hại tổng cộng 40.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc dép màu xanh, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu; 01 (một) chiếc dép màu đỏ, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ, hai bên mũ có thêu chữ màu vàng “THẮT CHẶT TÌNH ANH EM” và số “64”, phía sau mũ có thêu chữ màu vàng “VẠN DẶM BÌNH AN”, phía trước có thêu chữ màu xanh “TỔNG HỘI LÁI XE MIỀN NAM”, trên mũ có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và xét không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

- Đối với hung khí là con dao (loại dao mèo) mà bị cáo Trần Văn Đ gây thương tích cho bị hại anh Nguyễn Hoàng N và cây gậy bóng chày, sau khi gây án xong trên đường về thành phố Mỹ Tho bị cáo Đ đã vứt con dao và gậy bóng chày xuống sông Chợ Gạo thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan

- 6 -

Cảnh sát điều tra đã tiến hành tìm kiếm nhưng không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xét. [6] Đối với 02 người thanh niên tên N và T (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và xe ô tô mà H sử dụng để chở bị cáo Đ về phòng trọ H. Quá trình điều tra, bị cáo Đ không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của N và T, đồng thời xe ô tô do N điều khiển chở bị cáo Đ, bị cáo cũng không nhớ rõ thông tin cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét. [7] Đối với việc bị cáo làm hư hỏng lam thông gió phòng trọ của bà Nguyễn Thị Xanh. Quá trình điều tra bà Xanh cho rằng thiệt hại tài sản không lớn và bà đã sửa chữa xong nên bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo Đ nên Hội đồng xét xử không xét. [8] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên chấp nhận. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V các trên

UYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xử: Phạt bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân xã Bình Hòa Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- 7 -

Tiêu hủy 01 (một) chiếc dép màu xanh, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu; 01 (một) chiếc dép màu đỏ, bằng nhựa dài 26,0cm, mặt trên đế dép có chữ “Hải Yến”, trên quai dép có một miếng kim loại màu bạc ánh kim có chữ “Hiệp Hội Lái Xe HHLX VẠN DẶM BÌNH AN”, trên dép có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ, hai bên mũ có thêu chữ màu vàng “THẮT CHẶT TÌNH ANH EM” và số “64”, phía sau mũ có thêu chữ màu vàng “VẠN DẶM BÌNH AN”, phía trước có thêu chữ màu xanh “TỔNG HỘI LÁI XE MIỀN NAM”, trên mũ có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gò Công Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông).

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Báo bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ