- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HSST Ngày: 28/11/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lò Thị Ngọc Ánh;
2. Ông Nông Trung Kiên.
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 16/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HS ngày 17/11/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04/6/2004, tại Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản M P 1, xã M P, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Hải (Đã chết) và bà: Lò Thị Ọi, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/8/2021 bị cáo bị TAND huyện Đ B xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên lần phạm tội này bị cáo được coi là không có án tích, không bị xử lý hành chính; bị cáo bị bắt giam từ ngày 05/9/2022. "có mặt".
- Bị hại: Ông Trần Nguyên Phúc, sinh ngày 1975."vắng mặt". Trú tại: Thôn 24, xã Noong Hẹt, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
- Người có nghĩa vụ liên quan:
Ông Lao Văn Mạnh, sinh năm 1979;"vắng mặt". Địa chỉ: Bản Pa Kín, xã Na Tông, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2022, bị cáo đi bộ đến khu vực thôn Hoàng Công Chất, xã Thanh An, huyện Đ B thì nhìn thấy trước nhà ông Nguyễn Duy Kiên có một chiếc xe mô tô màu trắng – xám, nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, biển kiểm soát 27N1-051.66, trị giá 8.418.000đ của anh Trần Nguyên Phúc, sinh năm 1975, trú tại thôn 24, xã Noong Hẹt, huyện Đ B dựng ở sân nhà ông Nguyễn Duy Kiên. Quan sát thấy không có người trông coi, xe đang cắm chìa khóa tại ổ khóa nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để làm phương tiện đi lại sau đó bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo lén lút, bí mật tiếp cận chiếc xe máy ngồi lên xe mở khóa nổ máy rồi điều khiển xe theo hướng Điện Biên đi Mường Nhà để chơi. Trên đường đi đến bản Công Binh, xã Hẹ Muông, huyện Đ B thì xe hết xăng nên bị cáo đã dắt xe đi bộ đến nhà anh Lao Văn Mạnh, sinh năm 1979, ở bản Pa Kín, xã Na Tông, huyện Đ B (là người quen của Hiếu) để hỏi vay tiền mua xăng nhưng anh Mạnh không đồng ý cho vay nên bị cáo đã gửi nhờ chiếc xe mô tô tại nhà anh Mạnh và nói buổi tối sẽ quay lại lấy xe. Sau đó, bị cáo không quay trở lại lấy xe mà bắt xe ô tô khách đi về bến xe thành phố Điện Biên Phủ, rồi tiếp tục bắt xe từ Điện Biên đi tỉnh Bắc Giang với mục đích để làm thuê, khi nào kiếm được tiền thì sẽ quay lại lấy xe mô tô đang gửi chỗ anh Mạnh. Ngày 02/9/2022 bị cáo bắt xe từ Bắc Giang quay về Điện Biên để nghỉ lễ. Ngày 04/9/2022, anh Trần Nguyên Phúc làm đơn trình báo sự việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã triệu tập bị cáo đến làm việc, quá trình đấu tranh lấy lời khai bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình, đồng thời khai ra nơi gửi xe tại nhà anh Lao Văn Mạnh. Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã tiến hành tạm giữ chiếc xe mô tô BKS: 27N1 - 051.66 để làm rõ vụ việc.
Ngày 09/9/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bị hại là anh Trần Nguyên Phúc theo Quyết định xử lý vật chứng số 33. Anh Phúc đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về bồi thường thiệt hại.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 29/KL-ĐGTS ngày 05/9/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Điện Biên kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, màu sơn trắng xám, nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, biển kiểm soát 27N1-051.66; số máy JF46E5062992, số khung 4616EY362949, xe đã qua sử dụng có giá trị là 8.418.000đ (Tám triệu bốn trăm mười tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 242/CT-VKSĐB ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173/BLHS.
Tại phiên tòa đại diện VKS nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo không phải bồi thường cho bị hại. Bị cáo được miễn án phí HSST.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi xin Hội đồng xét hoàn cảnh gia đình xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2022 bị cáo lén lút, bí mật chiếm đoạt một xe mô tô của anh Phúc biển kiểm soát 27N1-051.66 dựng ngoài sân nhà anh Kiên. Sau đó bị cáo điều khiển xe về Mường Nhà gửi nhà người quen. Sau đó bị cáo đi làm thuê ở Bắc Giang, ngày 02/9/2022 bị cáo về nhà. Ngày 04/9/2022, anh Trần Nguyên Phúc làm đơn trình báo sự việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã triệu tập bị cáo đến làm việc, quá trình đấu tranh lấy lời khai bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình, đồng thời khai ra nơi gửi xe tại nhà anh Lao Văn Mạnh. Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã tiến hành tạm giữ chiếc xe mô tô BKS: 27N1 - 051.66 để làm rõ vụ việc.
Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai bị hại, lời khai của người coa nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và giá trị tài sản do bị cáo trộm cắp thì bị cáo đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Xét thấy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là ít nghiêm trọng, nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 173/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Sau khi sự việc xảy ra chiếc xe đã được trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Hội đồng xét xử chấp nhận việc người bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Đối với Lao Văn Mạnh là người cho bị cáo gửi xe mô tô ở nhà, nhưng không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên HĐXX không xem xét xử lý.
. Vật chứng của vụ án là chiếc xe mô tô BKS 27N1-051.66 là của bị hại Trần Nguyên Phúc, nên CQĐT đã trả cho bị hại theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS, Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173/BLHS; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 05/9/2022.
3. Trách nhiệm dân sự:
- Chấp nhận việc bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, HĐXX không xem xét giải quyết.
- Chấp nhận biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu của CQCSĐT Công an huyện Đ B.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND H. Điện Biên; - Công an H. Điện Biên; - Phòng HSNV CA T.Điện Biên; - Sở Tư pháp T.Điện Biên; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Bị hại; - L u. HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA Lò Thị Ánh Ngọc Lường Văn Lương HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA Lường Văn Hịa Lường Văn Lương | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Lương. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nông Trung Kiên HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Thanh Hông |