- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HS-ST Ngày: 11/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Công D, sinh năm 1982 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, khu phố 2, phường T, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1950; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 86/2017/HSST ngày 22/11/2017.
- Năm 2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 57/HSST ngày 25/4/2019, chấp hành xong ngày 04/10/2020.
Tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 28/01/2022 (có mặt).
Bị hại: Đoàn Xuân S, sinh năm 1976, địa chỉ: Số 54 đường T, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 27/01/2022, Trần Công D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72D1-503.XX đi ngang qua vườn cây cảnh Phúc Lộc thuộc khu phố 4, phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì thấy ông Đoàn Xuân S đang nằm ngủ trên võng. D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên dừng xe, đi bộ đến chỗ ông S nằm ngủ thì phát hiện có 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 để bên cạnh ông S. D lấy chiếc điện thoại di động bỏ vào túi áo rồi đi về phòng trọ ở huyện Long Điền. Đến sáng 28/01/2022, D mang điện thoại đã trộm cắp được đến tiệm điện thoại di động Việt Q, địa chỉ ấp T, xã H, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do ông Nguyễn Văn K làm chủ để bán thì bị cơ quan công an phát hiện, đưa về trụ sở làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Trần Công D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 194/BB-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bà Rịa kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, dung lượng 256 GB, IMEI 354196925147652, màu xanh, sản xuất năm 2021, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 3 năm 2022 có giá 24.163.333đ (hai mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 13, màu xanh, số máy MLQA3VN/A 256 GB, số IMEI 354196925147652. Ngày 08/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Đoàn Xuân S.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 72D1-503.XX, số khung RLCUE3720MY085128, số máy E32VE463539 do Trần Công D mua trả góp từ tháng 12/2021 và đứng tên chủ sở hữu. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã ra quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Trần Công D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công D mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo chiếc xe mô tô do là tài sản cá nhân của bị cáo.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, mức đề nghị hình phạt và đề nghị xử lý vật chứng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây cản trở đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là thống nhất, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 00 ngày 27/01/2022, tại vườn cây cảnh Phúc Lộc trên đường Hùng Vương, khu phố 4, phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, lợi dụng sự mất cảnh giác, sơ hở của chủ tài sản, Trần Công D đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone của ông Đoàn Xuân S trị giá 24.163.333 (hai mươi tư triệu một trăm sáu mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng.
Thời điểm phạm tội, bị cáo đang có tiền án với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Do đó, hành vi của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Do đó cần có một mức án, hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, quá trình áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến yếu tố nhân thân của bị cáo. Cụ thể: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 07 (bảy) lần bị kết án trước đó về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà để có tiền tiêu xài, bị cáo tiếp tục phạm tội. Đây là căn cứ đánh giá thái độ, mức độ ăn năn hối cải của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 13, màu xanh, số máy MLQA3VN/A 256 GB, số IMEI 354196925147652. Ngày 08/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Đoàn Xuân S. Ông S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 72D1-503.XX, số khung RLCUE3720MY085128, số máy E32VE463539 do Trần Công D mua trả góp từ tháng 12/2021 và đứng tên chủ sở hữu. Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D khai: Vào ngày xảy ra sự việc, bị cáo điều khiển xe mô tô nói trên đi nhậu ở quán nhậu Ốc lá. Trên đường đi về, khi đến vườn cây Phúc Lộc, nhìn thấy có một người đàn ông nằm ngủ trên võng nên mới nảy sinh ý định trộm cắp tài sản (BLĐT số 80, 82, 83, 84, 88). Như vậy, ý định trộm cắp tài sản chỉ nảy sinh trong quá trình bị cáo đi trên đường và nhìn thấy chủ tài sản có sự sơ hở, thiếu cảnh giác. Do đó, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius không được coi là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Công D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Trần Công D 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Trả lại cho bị cáo Trần Công D 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 72D1-503.XX, số khung RLCUE3720MY085128, số máy E32VE463539.
(Thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 52 ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm; Bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thành phố Bà Rịa; - Công an thành phố Bà Rịa; - Chi cục THADS thành phố Bà Rịa; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Bà Rịa; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Chu Thị Thanh Tâm |