vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N T N N phạm tội: Giết Người.

Xử phạt: bị cáo N T N N 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27 tháng 6 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "N T N N về tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N T N N phạm tội: Giết Người.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 57 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37 /2022/HS-ST
Ngày: 21 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Thanh Bằng;

2. Ông Nguyễn Hữu Thanh;

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Hồng Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/HSST, ngày 09 tháng 11 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Ng. T. N. N, sinh ngày 15/10/1999, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp A. H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: N.T. H và bà T. T. L; anh chị em ruột gồm có 03 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo ra đầu thú rồi bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2022 cho đến nay. có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

* Bà Nguyễn Thị Thùy Châu – là Luật sư của Văn phòng luật sư Thanh Châu thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long, bào chữa cho bị cáo N. T. N. N. có mặt.

* Bà N. T. H. N – là Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Đạt thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long, bào chữa chỉ định cho bị cáo N. T. N. N. có mặt.

Bị hại: Đ. T. H, sinh năm 1987. có mặt.

Nơi cư trú: ấp S. Đ, xã T. Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. N. T. H, sinh năm 1972. có mặt.

Nơi cư trú: ấp A. H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

1

2. T. T. L, sinh năm 1964. có mặt.

Nơi cư trú: ấp A. H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

3. T. N. T, sinh năm 1983. có mặt.

Nơi cư trú: ấp A. H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

1. T. D. T, sinh năm 1985. có mặt.

Nơi cư trú: ấp S. Đ, xã T. Đ, huyện L, tỉnh vĩnh Long.

2. Đ. T. N, sinh năm 2004. có mặt.

Nơi cư trú: ấp S. Đ, xã T. Đ, huyện L, tỉnh vĩnh Long.

3. N. M. T, sinh năm 1993. có mặt.

Nơi cư trú: ấp C. S. L, xã T. Đ, huyện L, tỉnh vĩnh Long.

4. T. V. T, sinh năm 1991. có mặt.

Nơi cư trú: ấp C. S. L, xã T. Đ, huyện L, tỉnh vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 26/6/2022, T. D. T, nơi cư trú: ấp S. Đ, xã T. Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long sau khi đã có uống rượu thì nhớ lại chuyện chị N. T. C. V (vợ của Thông) bị T. N. T, ngụ ấp: A. H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nhắc nhở về việc V trốn tránh trách nhiệm khi làm việc (T và V cùng làm chung công ty TNHH MTV NEOBAGS Việt Nam), nên T điều khiển xe môtô hiệu Exciter 150 mang biển số 64B1- 870.82 đến nhà T, để nói chuyện thì hai bên xảy ra cự cải. Sau đó, T bỏ đi và hẹn T 15 phút sau sẽ quay lại, T chạy xe ra đường tỉnh lộ 902 điện thoại cho Đ. T. H ngụ cùng xóm, nói “mới bị T đánh, tao với mầy xuống đánh nó lại”, H trả lời “ừ, vậy đợi tao đi để tao chạy ra”, nói xong H điều khiển xe môtô hiệu Wave mang biển số 64F9-2716 chạy đến gặp T để vào nhà T. Khi đến trước cửa nhà của ông T. N. E, nơi cư trú: ấp A H 1, xã M. A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (cha của T) và nhìn thấy T đứng phía trước cửa nhà, T xông vào dùng tay đánh nhiều cái trúng vùng mặt của T, H lấy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S của T đang để trên thềm nhà, đập xuống nền gạch làm bể điện thoại. Lúc này, ông N. T. H (nhà kế bên) nhìn thấy sự việc nên từ nhà chạy qua để can ngăn, ông H kêu T và H đi về nhưng T, H không chịu về và đòi đánh ông H. Cùng lúc, N. M. T ngụ ấp C S L, xã T. Đ, huyện L, điện thoại cho T hỏi“đang ở đâu”, T trả lời “đang đánh nhau với T gần quán “Quê Tôi”, nghe vậy T liền lấy 02 con dao Thái Lan và điều khiển xe môtô hiệu ATTILA 2 mang biển số 59F2-012.37 chạy đến cách quán “Quê Tôi” khoảng 100 mét thì nhìn thấy T. T đậu

2

xe lại, cầm theo 02 con dao đi đến chỗ T và nói “thằng nào đánh anh tao”, T chỉ tay về phía T và nói “thằng này đánh anh trước”, T cầm 02 con dao rượt đuổi đâm T, T bỏ chạy đến cửa sau nhà ông H. T, T và H đuổi theo thì được ông H và N. T. N. N (con ông H) can ngăn, lúc này T dùng dao đâm về cơ thể T gây xây xát vùng cẳng tay trái của T, T bỏ chạy vào bên trong nhà của ông H trốn, T chạy vòng phía ngoài lên cửa trước vào đến cửa buồng nhà ông H, nhưng bị ông H và N ngăn lại, không cho vào đánh T. Lúc này, ông H kêu T đi về, T mang theo 02 con dao và điều khiển xe chạy về nhà của T, rồi bỏ 02 con dao lại và sau đó đi về nhà của T.

Trong thời gian này, T và H đang ở cửa nhà sau của ông H, còn T đang đứng trong khu vực nhà bếp của ông H, T xông vào đánh T, ông H can ngăn thì bị H xông vào dùng tay đánh 01 cái trúng vùng mặt của ông H làm sưng mắt và chảy máu mũi. Nên, T quay lại can ngăn, không để H đánh ông H tiếp. N nói “cha con chỉ can thôi hà”, T nói “chú biết cậu H chỉ can”. T chen giữa ông H và H, N nói với H “anh đánh cha tôi, anh xin lỗi cha tôi”, H nói “tao không xin lỗi đó, mầy làm gì tao”, nghe vậy sợ cha sẽ bị đánh, N chạy lại kệ để chén trong nhà lấy 01 con dao Thái Lan cầm trên tay phải. Lúc này, H tiếp tục định đánh ông H thì bị N dùng dao đâm 01 nhát, trúng vùng hông bên phải của H làm H bị thương bỏ chạy. Khi Hà bỏ chạy khoảng 02 mét bị vấp ngã tư thế nằm sấp và xoay người lại nằm ngửa thì Nghĩa chạy đến dùng dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào cơ thể của H, H dùng tay và chân đưa lên chống đỡ, H khom người ngồi dậy để bỏ chạy, N cầm dao đâm 02 nhát trúng vùng vai trái của H, H đứng lên bỏ chạy hướng qua nhà của ông T. N. H, N cầm dao đuổi theo. Khi chạy đến cửa nhà của ông H thì H bị vấp ngã tư thế nằm sấp, lúc này H xoay người lại tư thế nằm ngửa thì N chạy đến cầm dao đâm nhiều nhát vào cơ thể H (trong đó có 01 nhát trúng vào vùng bẹn bên trái), H dùng tay chụp, nắm chặt phần lưỡi dao nên N không đâm được nữa. Lúc này, T và bà T. T. L (mẹ N) chạy đến can ngăn, ôm N lại, còn Đ. T. N đến gỡ lấy con dao trong tay của N ra.

Sau đó, T và T. V. T đưa Đ. T. H đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Long.

Đến sáng ngày 27/6/2022, N. T. N. N mang con dao đã sử dụng đâm Đ. T. H, đến chốt An ninh trật tự của Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long đầu thú về hành vi phạm tội và giao nộp hung khí gây án.

* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 199/2022/TgT ngày 10/10/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long kết luận đối với Đ. T. H như sau: (BL 144-145).

- Các dấu hiệu chính qua giám định:

+ Sẹo vết thương đòn trái, kích thước: 1,5x 3cm, không di chứng, cố tật;

+ Sẹo vết thương sau vai trái, kích thước: 4,3 x 0,5cm, không di chứng,cố tật;

3

+ Vết thương hông lưng phải d:5cm phồi ruột; vết thương hông lưng trái d: 3cm được phẩu thuật cắt đoạn đại tràng, hiện tại sẹo vết mổ đường giữa kích thước 16 x 1cm; sẹo vết mổ dẫn lưu kích thước: 1,5 x 0,5cm. Sẹo vết thương hông trái kích thước: 11,5 x 0,3cm, sẹo vết thương hông phải kích thước: 4,5 x 0,2cm, không di chứng, cố tật;

+ Vết thương dưới ngoài nếp bẹn trái 8cm chột sâu 12cm đứt gân cơ tứ đầu đùi được điều trị, hiện tại sẹo kích thước: 11 x 0,2cm, không di chứng, cố tật;

+ Vết thương trên ngoài cổ tay phải 3cm, được điều trị, hiện tại sẹo kích thước: 3x 0,1cm, không di chứng, cố tật.

+ Vết thương cổ - kẻ ngón cái đến đầu ngón cái khoảng 16cm đứt gân duỗi ngón I, được điều trị, hiện tại sẹo kích thước: 11 x 0,2cm, không di chứng, cố tật;

Kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại 58% (năm mươi tám phần trăm).

* Vật chứng thu giữ gồm.

- 01 (một) con dao có đặc điểm: con dao dài 31,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm; có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy, mũi dao rộng 0,4cm (hung khí gây án)

- 01 (một) con dao dài 26cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy rộng 0,4cm.

- 01 (một) con dao dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 12cm, có một lưỡi cắt.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, bị vỡ màn hình, thân máy bị cong.

* Quá trình điều tra, bị hại Đ. T. H yêu cầu như sau:

+ Về trách nhiệm hình sự: xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

+ Về dân sự: yêu cầu bồi thường tiền chi phí điều trị bệnh và tiền ngày công lao động trong thời gian khám, điều trị bệnh với tổng số tiền 20.996.000 đồng (hai mươi triệu, chín trăm chín mươi sáu ngàn đồng)

* Bị cáo N. T. N. N đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Hiện tại, gia đình bị cáo đã khắc phục xong.

* Đối với Đ. T. H: có hành vi đập điện thoại của T. N. T làm hư hỏng điện thoại, anh T cung cấp thông tin về chiếc điện thoại đã cũ, có giá trị thấp và anh T không yêu cầu xử lý. Đồng thời, hiện nay H chưa có tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long không đề cặp xử lý. Ngoài ra, Đ T H có hành vi dùng tay đánh trúng vùng

4

mặt của ông N T H làm sưng mắt và chảy máu mũi, ông H không yêu cầu, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long không đề cặp xử lý.

* T D T có hành vi dùng tay đánh T N T, anh T không có yêu cầu xử lý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long không đề cặp đến.

* Đối với N M T có hành vi dùng dao đâm gây xây xát cẳng tay trái của anh T N T, anh T không có yêu cầu nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long không đề cặp xử lý.

* Riêng đối với hành vi T D T; Đ T H và N M T rượt đuổi đánh anh T N T vào ban ngày, địa điểm xảy ra tại khu dân cư tự phát có khoảng 10 hộ dân sinh sống với khoảng 38 nhân khẩu, cách đường tỉnh lộ 902 khoảng 100 mét, không gây cản trở giao thông, nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long có văn bản và chuyển tài liệu có liên quan đến Công an xã Mỹ An, huyện M, tỉnh Vĩnh Long yêu cầu xử lý vi phạm hành chính là đủ.

Tại Bản cáo trạng số: 35/CT-VKS-P1 ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã truy tố để xét xử bị cáo N T N về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trình bày như sau:

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/6/2022, Đ T H cùng với T D T và N M T tham gia đuổi đánh T N T, lúc này T bỏ chạy sang nhà ông N T H (kế bên nhà T) để trốn, trong lúc ông H và N T N N (con ông H) can ngăn thì H dùng tay đánh trúng vùng mặt của ông H làm sưng mắt và chảy máu mũi. Thấy vậy, N yêu cầu H xin lỗi ông H nhưng H không đồng ý và có lời nói thách thức, sợ cha mình bị đánh nên N chạy vào nhà bếp lấy 01 con dao Thái Lan cầm trên tay phải. Lúc này, H dùng tay định tiếp tục đánh ông H thì N xông vào dùng dao đâm anh H, H chống đỡ bỏ chạy thì bị vấp té, N cầm dao đuổi theo đâm H tiếp tục nhiều cái thì được mọi người can ngăn.

Hậu quả, Đ T H bị gây thương tích với tỷ lệ 58% (năm mươi tám phần trăm)

Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo N T N N phạm tội: Giết Người.

Áp dụng khoản 2 Điều 123, các điểm b,e,h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo N T N N từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2022.

5

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 luật tố tụng Hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy các công cụ liên quan đến việc phạm tội như sau:

+ 01 (một) con dao có đặc điểm: con dao dài 31,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy, mũi dao rộng 0,4cm.

+ 01 (một) con dao dài 26cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy rộng 0,4cm.

+ 01 (một) con dao dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 12cm, có một lưỡi cắt.

+ 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, bị vở màn hình, thân máy bị cong.

+ Về dân sự: bị hại Đ T H yêu cầu bồi thường tiền chi phí điều trị bệnh và tiền ngày công lao động trong thời gian khám, điều trị bệnh với tổng số tiền 20.996.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm chín mươi sáu nghìn đồng), bị cáo N T N N đồng ý bồi thường và gia đình bị cáo đã khắc phục xong.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các điểm a, c, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm đúng theo quy định pháp luật.

* Luật sư Nguyễn Thị Thùy Châu trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo N T N N: trước hết về tội danh và khung hình phạt tôi hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên khi xem xét hình phạt đối với bị cáo thì xin Hội đồng xét xử căn nhắc xem xét đến hoàn cảnh, động cơ và cũng như hành động phạm tội của bị cáo, qua hồ sơ vụ án cũng như thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay cũng thể hiện chiều ngày 26/6/2022 khi T N T bị nhóm của bị hại H truy đuổi chạy vào nhà của bị cáo, khi T chạy đến cửa sau nhà của bị cáo thì phía bên phía bị hại H và T đuổi theo, trong đó T có cầm hung khí là con dao. Đến khi T chạy vào trong nhà của bị cáo thì được cha của bị cáo là ông H can ngăn hoàn toàn không có hành động chống trả nào đối với nhóm của bị hại H, bị hại H ra tay đánh ông H trước gây ra thương tích bị bầm mắt và chảy máu mũi.

Hành động của bị hại H đã gây sự kích động và bất bình tỉnh của bị cáo, bị cáo sợ cha mình bị đánh nữa cho nên bị cáo chạy đi lấy con dao. Bị có kêu bị hại H

6

xin lỗi cha của bị cáo nhưng mà bị hại H không chịu xin lỗi nên bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát vào cơ thể của anh H. Bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động tinh thần bởi hành vi trái pháp luật của bị hại, từ đó bị cáo mới phạm tội hậu quả chết người không xảy ra và cùng các tình tiết giảm nhẹ khác. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn nhắc xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

* Luật sư Nguyễn Thị Hồng Nhung trình bày luận cứ bào chữa chỉ định cho bị cáo N T N N: thống nhất các tình tiết giảm nhẹ do luật sư đồng nghiệp đã đưa ra. Bản thân bị hại cũng có một phần lỗi, sau khi gây án bị cáo đã ăn năn hối cải và ra tự thú. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo N T N N trình bày: do thấy anh H đánh cha bị cáo sưng mắt, chảy máu mũi và anh H có thể tiếp tục đánh cha nữa, nên bị cáo vào nhà lấy dao Thái Lan rồi sau đó đâm nhiều nhát vào người anh H. Sau khi gây án xong bị cáo hối hận việc đã làm nên đã ra đầu thú với cơ quan chức năng. Bị cáo thông qua Luật sư bào chữa để tác động gia đình bồi thường cho anh H

Bị hại Đ T H trình bày: bị cáo khai đúng hành vi phạm tội như Cáo trạng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của anh đã xong, anh không còn yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nữa; đồng thời, anh yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày:

Ông N T H trình bày: ông chỉ ngăn cản T và H không cho đánh T. Sau đó, ông bị anh H đánh sưng mắt và chảy máu mũi. Bị cáo thông qua luật sư tác động và gia đình đã bồi thường xong theo yêu cầu của anh H. Ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bà T T L trình bày: bà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh T N T trình bày: anh H đập làm hư điện thoại di động của anh, nhưng anh không yêu cầu anh H bồi thường.

Những người làm chứng trình bày: anh T D T, N M T, Đ T N và T V T đều trình bày bị cáo đã khai đầy đủ và trung thực sự việc.

Bị cáo N T N N nói lời nói sau cùng: bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đã biết ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của bản thân, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo N T N N khai nhận do có lời nói thách thức và sợ cha mình bị đánh nên bị cáo chạy vào bếp lấy con dao Thái Lan đâm bị hại, bị hại bỏ chạy bị cáo đuổi theo đâm nhiều nhát làm cho bị hại bị thương tích 58%. Xét lời khai của bị cáo N T N N là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của của bị hại, của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y, cùng các chứng cứ đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở để quy kết hành vi của bị cáo N T N N, phạm vào tội: giết người, trong trường hợp phạm tội chưa đạt; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, tính mạng của con người là vốn quý của xã hội, được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi mọi sự xâm hại; chính bị cáo đã dùng dao Thái Lan đâm bị hại nhiều nhát vào vùng hông, vùng vai trái, làm cho bị hại thương tích 58%. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì mâu thuẫn xích mích lời nói và muốn ngăn cản bị hại tiếp tục đánh Cha của mình, không chọn cách giải quyết hài hòa, bị cáo lại giải quyết bằng bạo lực là dùng dao Thái Lan – hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát vào nơi trọng yếu của người bị hại; thậm chí khi bị hại bỏ chạy có lúc bị té ngã, không dừng lại bị cáo vẫn đuổi theo đâm tiếp nhằm tước mạng sống của bị hại, việc bị hại không chết do được cứu chữa kịp thời là ngoài ý muốn của bị cáo; do đó, vẫn quy kết bị cáo N T N N phạm vào tội giết người, trong trường hợp phạm tội chưa đạt (áp dụng Án lệ số 45/2021AL); đồng thời, bị cáo còn cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm e khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự.

8

Hành động phạm tội của bị cáo không những đã vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bị hại; mà còn làm mất an ninh trật tự của địa phương, gây ra sự hoang mang lo sợ trong nội bộ nhân dân. Do đó, đối với bị cáo cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và nhằm phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo hối hận việc mình đã làm nên sau khi gây án đã ra đầu thú; bị cáo có quá trình nhân thân tốt, thể hiện chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động; cách xử sự của bị hại cũng không đúng mực, khi bị hại tìm đuổi đánh anh T N T, anh T bỏ chạy vào nhà của bị cáo, cha bị cáo là ông H ngăn cản, thì bị bị hại dùng tay tạo thành nấm đấm đánh vào phần mặt làm sưng mắt, chảy máu mũi, nên bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường xong thiệt hại về vật chất cho bị hại; bị cáo phạm tội đã hoàn thành về hành vi, nhưng chưa đạt về hậu quả; nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về xử lý vật chứng:

Khi điều tra vụ án Cơ quan điều tra có thu giữ một số vật chứng không còn giá trị sử dụng và bị hại không yêu cầu nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy, gồm các vật như sau:

+ 01 (một) con dao có đặc điểm: con dao dài 31,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy, mũi dao rộng 0,4cm.

+ 01 (một) con dao dài 26cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy rộng 0,4cm.

+ 01 (một) con dao dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 12cm, có một lưỡi cắt.

Riêng 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, bị vở màn hình, thân máy bị cong, màn hình bị bể nát, không sử dụng được và không xác định hiệu gì, là tài sản hợp pháp của anh Trần Ngọc Tuấn bị anh Đỗ Thanh Hà đập làm hư hỏng; lẽ ra tuyên giao chiếc điện thoại cho anh Trần Ngọc Tuấn, nhưng do anh Tuấn không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu hủy bỏ và anh Tuấn cũng không có yêu cầu anh Hà phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.

9

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2022).

Về bồi thường thiệt hại: phía bên bị hại không còn yêu cầu bồi thường thêm, nên không đặt ra giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã có xem xét nguyên nhân xảy ra vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cũng như tình hình chính trị tại địa phương, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định trên nên được chấp nhận.

Đối với đề nghị của luật sư bào chữa và luật sư chỉ định cho bị cáo chỉ đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được chấp nhận. Riêng đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo thì không được chấp nhận.

Đối với một số người có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý hình sự, đã được Cơ quan điều tra chuyển về địa phương để xử lý, nên không đề cập trong vụ án này.

Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23, của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do bị kết án nên buộc bị cáo N T N N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo N T N N phạm tội: Giết Người.

Áp dụng khoản 2 Điều 123, các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 1, khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo N T N N 07 (bảy) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27 tháng 6 năm 2022.

2. Về bồi thường thiệt hại: không giải quyết do bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại và không còn yêu cầu bồi thường thêm.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy, gồm các vật như sau:

10

+ 01 (một) con dao có đặc điểm: con dao dài 31,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy, mũi dao rộng 0,4cm (hung khí gây án).

+ 01 (một) con dao dài 26cm, cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 14,5cm, có một lưỡi cắt, mũi nhọn đã gãy rộng 0,4cm.

+ 01 (một) con dao dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 12cm, có một lưỡi cắt.

+01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đỏ, bị vở màn hình, thân máy bị cong, màn hình bị bể nát.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2022).

4. Về án phí: căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo N T N N phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho tất cả biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ