vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Q phải chị…

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. VKSND huyện N; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Q - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Q phải chị…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày: 21 – 6 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Phúc Lâm.

Ông Nguyễn Lê Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/TLST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2022.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Đình Q, sinh ngày 15/3/1997 tại huyện Th, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình S và bà Nguyễn Thị Thu H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Th xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt ngày 13/7/2018); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Võ H; sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm 2, xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An. Xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16/3/2022, Nguyễn Đình Q điều khiển xe mô tô YAMAHA, sơn màu đỏ, BKS 38F4-8137 đi từ nhà của mình đến thành phố V, tỉnh Nghệ An để chơi điện tử. Khi đến khu vực khối Ba Hà, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì xe hết xăng nên Quyết đã đẩy xe vào trụ sở Công an huyện N để gửi xe thì Quyết phát hiện thấy công trường đang thi công nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, Nguyễn Đình Q đi vào khu vực công trình đang thi công. Tại đây, Nguyễn Đình Q phát hiện chiếc xe mô tô HONDA, WAVE ALPHA, sơn màu đỏ, BKS 37E1-200.12 của anh Nguyễn Võ H đang dựng ở khu vực công trình, trên xe vẫn để chìa khóa. Lúc này, quan sát thấy không có ai trông coi nên Nguyễn Đình Q đã lấy trộm chiếc xe trên và đi ra khỏi trụ sở Công an huyện N. Sau khi trộm cắp xong Nguyễn Đình Q điều khiển chiếc xe vừa trộm được đi xuống khu vực phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An để chơi điện tử. Cùng ngày, Công an phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện thấy Nguyễn Đình Q không có giấy tờ xe nên Công an phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An đã lập biên bản sự việc và tạm giữ chiếc mô tô BKS 37E1-200.12.

Ngày 17/3/2022, Công an phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An đã bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda sơn màu đỏ BKS 37E1-200.12 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện N để phục vụ điều tra.

Đến ngày 18/3/2022, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Nguyễn Đình Q đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KLĐGTS ngày 23/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, sơn màu đỏ, xe mang biển kiểm soát 37E1-200.12, số khung: 1213DY-077152, số máy: HC12E-5077259, xe mua từ năm 2013, xe đã qua sử dụng có giá 8.000.000 đồng (tám triệu đồng)”.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKSNĐ ngày 20/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- 01 chiếc xe mô tô HONDA WAVE ALPHA, sơn màu đỏ, BKS 37E1-200.12, là tài sản bị trộm cắp của anh Nguyễn Võ H, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

- 01 chiếc xe mô tô YAMAHA, sơn màu đỏ, BKS 38F4-8137 của chị Trương Thị Lệ Th (SN:1979, trú tại: khối T, phường H, thành phố V). Quá trình điều tra, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Q nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình Q đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 16/3/2022, tại trụ sở Công an huyện N thuộc khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình Q đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô HONDA WAVE ALPHA, sơn màu đỏ, biển kiểm soát 37E1-200.12 trị giá 8.000.000 đồng của anh Nguyễn Võ H. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được giáo dục, cải tạo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về bồi thường dân sự; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra đã xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18/3/2022.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ