vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 19/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Văn L 08 (tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày26 tháng 4 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày 19-7- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Trạch;

Bà Vy Thị Thơm.

Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sátnhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơntham gia phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòaán nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số 36/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng7 năm 2022, đối với bị cáo:

Tô Văn L, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2000 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc:Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn P và bà Bế Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáobị tạm giữ từ ngày 26/4/2022 đến ngày 29/4/2022 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Trang T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2004; cư trú tại: Khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại (bố đẻ): Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1964;cư trú tại: Khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1999; cư trú tại: Khu H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 26/4/2022, Tô Văn L một mình đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ nhà ra thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để đi chơi lễ hội truyền thống của địa phương. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày khi đến khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Tô Văn L xuống xe và đi bộ vào trong khu B. Khi đi qua nhà của chị Nguyễn Phương T, Tô Văn L thấy cổng nhà mở, quan sát không thấy có ai trong nhà nên Tô Văn L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tô Văn L vào đến cổng nhà thì nhìn thấy trong nhà 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng của Phạm Trang T (là bạn của Nguyễn Phương T đến chơi) để trên ghế sofa ngoài phòng khách. Tô Văn L chạy vào lấy chiếc điện thoại di động rồi chạy đi. Khi đi đến khu vực ngã ba thị trấn L thì Tô Văn L gặp Nguyễn Văn H. Tô Văn L nhờ Nguyễn Văn H đưa đến cửa hàng sửa chữa và mua bán điện thoại di động của chị Phạm Thị T tại Khu H, thị trấn L, tỉnh Lạng Sơn ở đầu đường vào chợ L. Tại đây, Tô Văn L yêu cầu Phạm Thị T phá khóa mật khẩu điện thoại di động. Tuy nhiên chị Phạm Thị T cho biết để phá mật khẩu điện thoại thì cần thời gian lâu nên Tô Văn L để lại điện thoại tại quán hẹn đến lấy sau và tiếp tục đi chơi. Tô Văn L cũng không biết Nguyễn Văn H đi đâu. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày khi Tô Văn L đi đến khu vực cổng trường Trung học Phổ thông L, thuộc khu P, thị trấn L, tỉnh Lạng Sơn thì bị phát hiện đưa về trụ sở Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn để làm rõ hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luậnđịnh giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng, cũ đã qua sử dụng trị giá 5.500.000đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại cho bị hại chị Phạm Trang T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Trang T không có ý kiến, yêu cầu bị cáo Tô Văn L bồi thường dân sự.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Tô Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã viện dẫn ở trên.

Bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSLB, ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Tô Văn L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn L thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bản thân nhưCáo trạngđã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tô Văn L từ 08 (tám) tháng đến 11 (mười một) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Trang T không có yêu cầu bị cáo Tô Văn L bồi thường dân sự nên không đề nghị xem xét. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra ngày 29/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Phạm Trang T là đúng, do vậy đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại (bố đẻ), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựvề thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụngđã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản xác định hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26/4/2022 tại nhà của chị Nguyễn Phương T thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Tô Văn L có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Phạm Trang T. Hành vi của bị cáo Tô Văn L đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người cóđủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện L. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cốý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước khi phạm tội bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, là người có nhân thân tốt.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng vẫn cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh thể hiện bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Trang T và người đại diện không có ý kiến, yêu cầu bị cáo Tô Văn L bồi thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn H là người đưa Tô Văn L đi đến cửa hàng sửa điện thoại, hiện nay Nguyễn Văn H không có mặt tại địa phương nhưng trong quá trình điều tra Tô Văn L đều khai nhận chỉ nhờ Nguyễn Văn H đưa đến cửa hàng điện thoại do Tô Văn L chỉ và không cho Nguyễn Văn H biết là đi phá mật khẩu điện thoại do trộm cắp mà có, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chị Phạm Thị T là người nhận điện thoại để phá mật khẩu, do Phạm Thị T không biết đây là chiếc điện thoại do Tô Văn L phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra ngày 29/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp chị Phạm Trang T là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Tô Văn L 08 (tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày26 tháng 4 năm 2022.

3. Án phí:

Bị cáo Tô Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ