- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ksor B phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor B phạm tội “Cướp giật tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 37/2022/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Nhung- Chủ tịch Hội Nông dân huyện Krông Pa
2. Ông Nguyễn Văn Liễu - Nguyên là giáo viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Giang – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: ông Ksor Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 35/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Ksor B, sinh ngày 03/11/2005 tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn Suối Cẩm, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rmah Q và bà Ksor H’M; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày từ ngày 06/7/2022, đến ngày 09/7/2022 chuyển sang tạm giam và tạm giam liên tục cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Ksor B: Bà Ngô Thị V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ksor Bit: ông Rmah Q, sinh năm 1979
Nơi cư trú: Buôn Suối Cẩm, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa - Gia Lai. Có mặt.
- Người bị hại: Ông Võ Văn B, sinh năm 1961
Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt, đã có đơn xin được xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Kpă H, sinh năm 2009
Nơi cư trú: Buôn Mlăh, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
- Người đại diện hợp pháp của Kpă H: ông Nay V, sinh năm 1976
Nơi cư trú: Buôn Mlăh, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
+ Kpă I, sinh năm 2007
Nơi cư trú: Buôn Mlăh, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
- Người đại diện hợp pháp của Kpă I: bà Kpă H’K, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Buôn Mlăh, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (ông Nay V, bà Kpă H’K, Kpă H và Kpă I đều vắng mặt và đã có đơn xin được xét xử vắng mặt.
+ Anh Mai Ngọc T, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Buôn Suối Cẩm, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt, đã có đơn xin được xét xử vắng mặt).
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Anh Nay Dăm T, sinh năm 1986
Trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/4/2022, Ksor B (SN: 03/11/2005, trú: buôn Suối Cẩm, xã Chư Đrăng) cùng với Kpă H (SN: 2009) và Kpă I (SN: 2007) cùng trú tại buôn Mlăh, xã Phú Cần đi chơi quanh khu vực Công viên thị trấn Phú Túc. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 02/4/2022, tại ngã tư đường Kpă Tít và đường Hùng Vương thuộc Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Túc. B gặp ông Võ Văn B (SN: 1961, trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Túc). Biết ông B có mua sắt vụn và muốn bán thanh sắt dài khoảng 56cm do I nhặt được bên đường vào buổi chiều ngày 01/4/2022, nên B cùng H và I đi đến và hỏi ông B “chú có mua sắt không?”. Ông B nói “có, giá bao nhiêu?”. H nói bán với giá 20.000 đồng. Lúc này ông B lấy trong túi quần ra một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đưa cho B rồi nói đi gặp bà Dương Thị H (vợ ông B) ở gần đó để đổi tiền lẻ. B cầm tiền rồi hỏi “chú có tiền lẻ không, cho 10.000 đồng cũng được”. Ông B liền lấy từ trong túi quần sau ra hai tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi nói chỉ còn hai tờ tiền này. Lúc này, B nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông B nên dùng tay trái giật lấy hai tờ tiền trên tay ông B rồi nhanh chóng bỏ chạy về hướng Công viên thị trấn Phú Túc. H và I không biết chuyện gì, thấy B giật tiền nên hoảng sợ bỏ chạy. Ông B đuổi theo nhưng không bắt kịp. Sau đó, H và I đến quán Internet Esport Ds ở Tổ dân phố 6, thị trấn Phú Túc để chơi game. Khoảng 10 phút sau, B cũng đến quán Internet chơi rồi gặp H và I. B, H và I ngồi chơi và không nói gì đến việc B cướp giật tài sản, B cũng không chia tiền cướp giật được cho ai. Sau đó, B gặp anh Mai Ngọc T (SN: 1990, trú: buôn Suối Cẩm, xã Chư Đrăng) là người trông coi quán để đổi một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng ra 09 tờ mệnh giá 20.000 đồng và 32 tờ mệnh giá 10.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, ông B tìm thấy B rồi báo Công an thị trấn Phú Túc để mời lên làm việc.
Tại bản Kết luận giám định pháp y độ tuổi số 415/KL-C09(Đ3) ngày 08/4/2022, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xác định: Độ tuổi của Ksor B tại thời điểm giám định (tháng 4/2022) là từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng.
Tại bản cáo trạng số Số: 34/CT-VKS, ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Ksor B về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ksor B về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của BLHS:
Xử phạt bị cáo Ksor B từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù
Quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Ksor B đồng ý với bản luận tội của đại diện VKSND huyện Krông Pa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị HĐXX xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào chiều ngày 01/4/2022, sau khi nhặt được thanh sắt ở bên đường gần ngã tư đường Lê Hồng Phong và đường Hùng Vương thì anh H và I cùng bị cáo B tìm gặp ông B để bán thanh sắt đã nhặt được. Sau đó khoảng hơn 00 giờ ngày 02/4/2022 bị cáo B cùng với anh H và I đi đến gặp ông B đang ngồi trước chi nhánh Viettel ở ngã tư đường Kpă Tít và đường Hùng Vương và hỏi chú có mua thanh sắt không thì ông B nói có, giá bao nhiêu thì anh H nói bán với giá 20.000 đồng, lúc này ông B lấy 50.000 đồng đưa cho bị cáo B rồi nói đi gặp bà H (vợ của ông B) ở gần đó để đổi tiền lẻ nhưng bị cáo B không đi đổi tiền lẻ mà hỏi lại ông B có 10.000 đồng cũng được thì ông Bình lấy từ trong túi quần ra 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và nói chỉ còn 02 tờ tiền này. Lúc này, bị cáo B nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông B nên đã dùng tay trái giật lấy hai tờ tiền trên tay của ông B rồi nhanh chóng bỏ chạy về hướng Công viên thị trấn Phú Túc. Còn anh H và I không biết chuyện gì, thấy bị cáo B giật tiền nên hoảng sợ bỏ chạy. Sau đó đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, ông B tìm thấy bị cáo B đang ở quán Internet Esport Ds ở Tổ dân phố 6, thị trấn Phú túc để chơi game nên báo Công an thị trấn Phú Túc để mời lên làm việc.
Như vậy, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản đã chiếm đoạt của ông Võ Văn B với số tiền là 1.050.000 đồng nhằm mục đích tư lợi bất chính là đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Hành vi phạm tội của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra là có căn cứ pháp lý.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Ksor B vào tội “ “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Ksor Bit không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 171 của BLHS 2015.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi cướp giật tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì tham lam, lười lao động, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã trực tiếp lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt nhằm mục đích tư lợi bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở vùng nông thôn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội. Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, bị cáo đã trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho công tác điều tra, sau đó bắt theo lệnh truy nã. Điều này chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo Hái không tốt.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo.
Bên cạnh đó bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, có nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS được áp dụng cho bị cáo.
Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, chưa phát triển về mặt tâm sinh lý đầy đủ như người trưởng thành do đó cần căn cứ vào Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội để quyết định hình phạt chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
Xét tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt tù để tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Ksor B tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Đối với anh Kpă H và Kpă I không có sự bàn bạc gì với bị cáo Ksor B trước khi bị cáo B thực hiện hành vi cướp giật tài sản, việc bị cáo B giật tiền của ông B là do bột phát nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh H và anh I với vai trò là đồng phạm trong vụ án này.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Ksor B đã chiếm đoạt của ông Võ Văn B với số tiền là 1.050.000 đồng, sau khi tội phạm bị phát hiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa đã trả lại số tiền trên cho ông B. Trong quá trình điều tra cũng như trong đơn xin được xét xử vắng mặt, ông B không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự trong vụ án, HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng và vấn đề liên quan khác:
- 01 (một) thanh sắt loại phi 14, dài 55,5 cm là do anh Kpă H, Kpă I cùng với bị cáo B nhặt được, giá trị sử dụng không đáng kể nên cần tịch thu tiêu hủy
Về án phí:
Buộc bị cáo Ksor B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ksor B phạm tội “Cướp giật tài sản”
1. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của BLHS:
Xử phạt bị cáo Ksor B 01(một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 06/7/2022.
2. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh sắt loại phi 14, dài 55,5 cm
Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa.
3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Ksor B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2022), còn bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thành viên Hội đồng xét xử
---
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Liễu - Nguyễn Đình Nhung
Ksor Pep
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai ; - VKSND h. Krông Pa; - Công an h. Krông Pa; - Bị cáo; - Bị hại; Người có QL&NVLQ; - Chi cục THADS h. Krông Pa; - Lưu HS vụ án, THA hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Khắc Toản |