vanban.org

Bản án 37/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 07/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây Tơng tích”.

Nguyễn Văn N 22 (Hai mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N Cố ý gây thương tích) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây Tơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nh một phần mức hình phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HS-ST
Ngày: 07-9-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà

Bà Huỳnh Thị Thuận

T ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn– T ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Võ Danh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm: 1983 tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu Tờng trú: Khu phố Hải V, thị trấn L, huyện L Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chỗ ở: Khu phố Hải A, thị trấn L, huyện L Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; nghề nghiệp: Đi biển; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, CCCD: 077083001549; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1950 (Đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm: 1958; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em; bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ Trương Thị Thùy T, sinh năm 1986, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Bị hại: Bà Trương Thị Thùy T, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ 21 ấp Mỹ H, xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu(Có mặt).

Người biết việc:

+ Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1960, địa chỉ: Tổ 21 ấp Mỹ H, xã L M, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu(Có mặt).

+ Bà Đỗ Thị M T, sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ 6 ấp T, xã P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/4/2022, Nguyễn Văn N (sinh năm: 1983) chạy xe từ khu phố Hải V, thị trấn L Hải, huyện L Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đến nhà của chị Trương Thị T T (sinh năm: 1986 - là vợ của N, hiện cả hai đang ly thân) ở tổ 21, ấp Mỹ H, xã L Mỹ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu để thăm con gái là Nguyễn Minh T (sinh năm: 2019 – là con chung của N và chị T). Đến 18 giờ cùng ngày, do N nghi ngờ chị T đang quen người khác nên giữa N và chị T xảy ra mâu thuẫn cãi vã. Trong lúc bực tức N cầm lấy 01 cây sắt (loại sắt Ø 6, dài 21cm, một đầu được mài nhọn bị bẻ cong một ít, một đầu được uốn lại để làm tay cầm) để sẵn trong túi đồ mà N mang theo (N khai cây sắt đó N mang từ công trình về để sửa cửa nhà) tiến lại chỗ chị T đang đứng nấu ăn tại khu vực bếp, rồi N dùng tay phải đâm nhiều nhát trúng vào vùng đầu, vùng tai, vùng gáy và tay của chị T. Sau đó, chị T bỏ chạy ra ngoài tri hô và được người nhà đưa đi cơ sở y tế sơ cứu. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, người nhà của chị T làm đơn tố cáo hành vi của N lên Công an xã L M. Đến 20 giờ 40 phút cùng ngày, N đến Công an xã L M, huyện Đất Đỏ để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Nguyễn Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên. (BL 90 đến 102).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã thu giữ 01 cây sắt (loại sắt Ø 6, dài 21cm, một đầu được mài nhọn bị bẻ cong, một đầu được uốn lại để làm tay cầm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về Tơng tích số 198/TgT ngày 26/5/2022, của Trung T giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Trương Thị Thùy T có có 07 Tơng tích: (BL 47 đến 52).

- Tơng tích 1 s o da ở vùng đính phải (cách gốc tai phải về phía sau 9,5cm), dạng hình ô van, bờ gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 1,2cm x 0,2cm, có t lệ Tơng tật 01% (Hình 1);

- Tơng tích 2 s o da ở chẩm trái (cách gốc tai trái về phía sau 3,7cm), dạng hình ô van, bờ gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 0,5cm x 0,2cm, có t lệ Tơng tật 01% (Hình 2);

- Tơng tích 3 s o ở mặt sau vành tai trái, dạng dài, bờ tương đối gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 1,5cm x 0,2cm, có t lệ Tơng tật 02% (Hình 3);

- Tơng tích 4 s o da ở sau cổ (giữa đốt sống cổ C7), dạng hình ô van, bờ gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 0,8cm x 0,4cm, có t lệ Tơng tật 02% (Hình 4);

- Tơng tích 5 s o da ở k ngón III-IV bàn tay trái, không r hình dạng hình học, bờ tương đối gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 0,4cm x 0,3cm, vận động ngón III, IV bình Tờng, có t lệ Tơng tật 01% (Hình 5);

- Ngón II bàn tay phải: (Hình 6,7)

Tơng tích 6 s o da ở mặt mu đốt giữa, không r hình dạng hình học, bờ gọn lành màu hồng nhạt, kích Tớc 0,8cm x 0,2cm, có t lệ Tơng tật 01% (Hình 6);

Tơng tích 7 s o da ở mặt ngoài đốt xa, dạng hình ô van, bờ gọn, lành màu hồng nhạt, kích Tớc 0,5cm x 0,2cm, có t lệ Tơng tật 01% (Hình 7).

Vận động ngón trong giới hạn bình Tờng, các Tơng tích 6, 7 do một lần tác động gây ra (vết Tơng xuyên thấu).

* Về vật gây Tơng tích, chiều hướng lực tác động:

Các Tơng tích của nạn nhân phù hợp được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng nhọn, tác động theo cơ chế đâm hoặc đâm sượt; tác động vào vị trí các Tơng tích theo chiều chướng:

Tơng tích 1: Chiều từ trên xuống dưới.

Tơng tích 2, 3, 4: Chiều từ sau ra trước.

Tơng tích 5: Chiều từ dưới lên trên.

Tơng tích 6 và 7: Chiều hướng từ Tơng tích 6 đến Tơng tích 7(từ sau ra trước, từ trên xuống dưới).

Căn cứ thông tư liên tịch số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, quy định t lệ phần trăm tổn Tơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y T thần. T lệ tổn Tơng cơ thể do Tơng tích gây ra hiện tại là 09%.

* Trách nhiệm dân sự: Hiện chị Trương Thị Thùy T không yêu cầu Nhớ bồi Tờng về trách nhiệm dân sự (BL 108 đến 114).

* Xử lý vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã chuyển 01 cây sắt (loại sắt Ø 6, dài 21cm, một đầu nhọn bị bẻ cong, một đầu được bẻ gập làm tay cầm) đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ để lưu giữ chờ xử lý.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Nhớ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính tiết giảm nh , Nhớ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra công an đầu thú.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐĐ ngày 22/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây Tơng tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây Tơng tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nhớ từ 18 đến 24 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây sắt (Loại sắt phi 6, dài 21m, một đầu nhọn bị bẻ cong, một đầu được bẻ gập làm tay cầm), (đã cũ, đã qua sử dụng).

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ ngày 27/4/2022, tại nhà của chị Trương Thị T T ở tổ 21, ấp Mỹ H, xã L Mỹ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Nguyễn Văn N đã có hành vi dùng 01 cây sắt (loại sắt Ø 6, dài 21cm, một đầu được mài nhọn bị bẻ cong, một đầu được uốn lại để làm tay cầm) đâm nhiều nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào người của chị T gây ra 07 Tơng tích (02 Tơng tích ở đầu, 01 Tơng tích ở tai trái, 01 Tơng tích ở cổ, 01 Tơng tích ở tay trái và 02 Tơng tích ở tay phải) có tổng t lệ Tơng tật là 09%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây Tơng tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người, bị cáo Tờng xuyên đánh chị T (Vợ của bị cáo), ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra các bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nh một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị tạm giam bị cáo tại phiên tòa vì có căn cứ bị cáo tiếp tục phạm tội là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

01 (Một) cây sắt (Loại sắt Ø 6, dài 21m, một đầu nhọn bị bẻ cong, một đầu được bẻ gập làm tay cầm), (đã cũ, đã qua sử dụng). Đây là vật liên quan phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây Tơng tích”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:

Nguyễn Văn N 22 (Hai mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giam bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây sắt (Loại sắt Ø 6, dài 21m, một đầu nhọn bị bẻ cong, một đầu được bẻ gập làm tay cầm), (đã cũ, đã qua sử dụng).

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ theo biên bản giao nhận vật chứng số 43/BB ngày 23/8/2022).

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/9/2022); đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ