- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hương Huy"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, Điều 227; khoản 1, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự ; Các Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy địn…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 37/2022/HNGĐ - ST Ngày: 15/06/2022 "V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai.
2. Ông Lê Văn Ninh.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 06 năm 2022 tại hội trường, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐSTHNGĐ, ngày 25 tháng 05 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị PTH, sinh năm 1987
Trú tại: Tổ 2, phường TV, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh LVH, sinh năm 1982
Trú tại: Tổ 2, phường TV, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 14, K3, Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại biên bản hòa giải nguyên đơn chị PTH trình bày: Chị và anh LVH kết hôn năm 2011, hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường TV, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013. Tài sản chung, nợ chung: Không có
Lý do chị H xin ly hôn với anh H: Trong thời gian chung sống, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên mâu thuẫn, cãi cọ lẫn nhau. Năm 2021 do anh H chơi bời nên đã phạm tội về ma túy và phải đi chấp hành án tại Trại Giam V, tỉnh Vĩnh Phúc thời hạn là 03 năm. Tình cảm vợ chồng rạn nứt và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh LVH.
Khi ly hôn về con chung: Do anh H đang phải đi chấp hành án phạt tù do đó không đảm bảo việc nuôi con, nên chị đề nghị được nuôi cả hai con chung. Không đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Chị H nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Do bị đơn anh LVH đang chấp hành án tại Đội 14, K3, Trại Giam V, tỉnh Vĩnh Phúc nên Tòa án tiến hành làm việc nơi anh H đang chấp hành án. Tại biên bản lấy lời khai anh LVH trình bày: Anh và chị PTH kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường TV, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống có 02 con chung: Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013.Tài sản chung, nợ chung: Không có. Trong quá trình chung sống với nhau đến nay hai vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi cọ lẫn nhau và bất đồng quan điểm sống. Tháng 3/2021 do anh phạm tội phải đi chấp hành án tại Trại giam V, Vĩnh Phúc. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh cũng nhất trí ly hôn để giải phóng cho nhau.
- Khi ly hôn về con chung: Anh nhất trí để chị H được nuôi cả hai con do hiện tại anh đang phải chấp hành án.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện anh đang phải chấp hành án nên anh H có đơn yêu cầu được giải quyết và xét xử vắng mặt anh tại Tòa án và tại phiên tòa. Ngoài ra anh H không có ý kiến đề nghị gì khác.
Do các đương sự không cùng nhau hòa giải và thỏa thuận để giải quyết vụ án. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
Tại phiên tòa chị PTH vắng mặt và chị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt, về nội dung vụ án chị H yêu cầu ly hôn với anh H, yêu cầu được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa anh H vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, về nội dung vụ án, anh H nhất trí ly hôn với chị H, nhất trí để chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, Tài sản chung và nợ chung anh xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, Do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh H tại phiên tòa theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX xem xét cho chị H được ly hôn anh H. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: không xem xét giải quyết vì chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, và nợ chung: Không có và không yêu cầu. Về án phí chị H phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án..
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua xem xét công khai tài liệu chứng cứ tại phiên toà có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc Điều 28; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị H và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H giữ nguyên quan điểm ly hôn với anh H, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có. Anh H nhất trí ly hôn, nhất trí để chị H được nuôi con, tài sản chung và nợ chung xác định không có. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định.
. Về nội dung:Chị PTH và anh LVH kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TV, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn theo chị H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, không cảm thông chia sẻ với vợ con trong cuộc sống, anh H mải chơi, không quan tâm chăm sóc đến vợ con. Đến năm 2021, anh H phạm tội và phải đi chấp hành án tại Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc thời hạn 03 năm, nên tình cảm vợ chồng đã dần lạnh nhạt và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc yêu cầu được ly hôn với anh H. Anh H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H là phù hợp với thực tế và Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình 2014.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013. Khi ly hôn chị H đề nghị được nuôi cả hai con chung, anh H nhất trí với lý do hiện anh đang phải chấp hành án nên không có điều kiện để chăm sóc các con được. Hội đồng xét xử thấy, cả hai con chung của chị H anh H đều còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, anh H hiện tại chưa có đủ điều kiện để chăm sóc con chung do đang phải chấp hành án tại Trại giam và 02 cháu có nguyện vọng được ở với chị H. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và theo quy định của Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh H được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung theo quy định.
. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị H và anh H không yêu cầu. Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Chị H chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, Điều 227; khoản 1, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự ; Các Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị PTH. Cho chị H được ly hôn với anh LVH.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Phạm Mỹ A, sinh ngày 24/2/2012 và Lê Đức T, sinh ngày 21/11/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh H được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
* Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Án phí: Chị H phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001175 ngày 09/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án./.
| N¬i nhËn: - VKSND TPTN; - Chi cục THADS TPTN; - TAND tỉnhTN; - Đương sự; - UBND phường TV; - Lưu HS, BP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Duy Chinh |