vanban.org

Bản án 37/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 04/04/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị L.

[1]. Quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L và anh Nguyễn Quyết T được ly hôn. [2]. Nuôi con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn chị L, anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST
Ngày 04/04/2022
V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Thành

Ông Trần Ngọc Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 04/04/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2022/TLST- HNGĐ ngày 14/01/2022 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/03/2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Trần Thị L. Sinh năm 1983.

Địa chỉ hiện nay: Xóm Nhân Tiến, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Quyết T. Sinh năm 1982.

Địa chỉ: Xóm Nhân Tiến, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Trần Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Quyết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 14/7/2003. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2018, hai vợ chồng bàn bạc với nhau để anh T sang Hoa Kỳ làm ăn. Ngày 26/8/2018, anh T xuất C sang Hoa Kỳ. Khi sang nước ngoài, anh T chung sống với người phụ nữ khác, không còn quan tâm đến vợ con ở nhà, không gửi tiền về cho chị trả nợ và nuôi con. Từ khi sang Hoa Kỳ, anh T chưa trở về Việt Nam lần nào. Địa chỉ của anh T hiện ở nước ngoài chị cũng không biết cụ thể. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Quyết T. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Hoài T, sinh ngày 11/10/2005 và cháu Nguyễn Sỹ C, sinh ngày 31/8/2011. Hai cháu hiện đang ở với chị L. Chị L có nguyện vọng được nuôi con cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Các cháu cũng có nguyện vọng được ở với chị L. Về tài sản chung và các khoản nợ chung vợ chồng: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Trần Thị L đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị L đã gửi cho Tòa án.

Về phía anh Nguyễn Quyết T: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Quyết T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử...cho anh T thông qua ông Nguyễn Minh C và bà Hồ Thị L là bố mẹ của anh T; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện tại anh T vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của ông Nguyễn Minh C và bà Hồ Thị L thì anh T đang làm ăn bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, không có chỗ ở ổn định. Anh T thường xuyên L lạc về cho ông bà bằng điện thoại, nhưng ông bà không biết địa chỉ hiện tại anh T ở đâu. Ông bà đã thông báo cho anh T việc chị L yêu cầu ly hôn nhưng anh T đồng ý ly hôn và giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh T sẽ có trách nhiệm nuôi con chung cùng chị L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của chị Trần Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Quyết T; giao các con chung của vợ chồng cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Nguyễn Quyết T có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An, anh T hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Quyết T hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Minh C, bà Hồ Thị L là bố mẹ đẻ anh T, đề nghị thông báo cho anh T biết về yêu cầu khởi kiện của chị L và cung cấp địa chỉ của anh T hiện nay nhưng ông bà không cung cấp được. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, giấy triệu tập phiên tòa, tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài. Theo tài liệu L quan và xác nhận của địa phương, xác minh ông C, bà L, thì anh Nguyễn Quyết T có hộ khẩu tại xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An, đã đi nước ngoài, hiện không sinh sống tại địa phương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh T, nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Trần Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị L và anh Nguyễn Quyết T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2003. Từ năm 2018, anh T xuất C sang Hoa Kỳ làm ăn, sinh sống. Từ khi đi nước ngoài, anh T cũng ít gọi điện về cho gia đình, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đến nay anh T không còn quan tâm gì đến vợ con. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị L. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Quyết T.

[3.2] Về con chung: Chị L và anh Nguyễn Quyết T có hai con chung là cháu Nguyễn Hoài T, sinh ngày 11/10/2005 và cháu Nguyễn Sỹ C, sinh ngày 31/8/2011. Các cháu hiện đang sống cùng chị L. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con; anh T hiện đang ở nước ngoài và không có ý kiến, tài liệu gửi Tòa án gì về việc nuôi con và đóng góp nuôi con chung. Vì vậy, cần giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng các cháu. Anh Thăng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

Về cấp dưỡng: Hiện nay chị L chưa yêu cầu và anh T chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ: Chị Trần Thị L không yêu cầu giải quyết, anh Nguyễn Quyết T cũng chưa có ý kiến, vì vậy Tòa án không xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị L.

[1]. Quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L và anh Nguyễn Quyết T được ly hôn.

[2]. Nuôi con chung:

[2.1]. Giao con chung là các cháu Nguyễn Hoài T, sinh ngày 11/10/2005 và cháu Nguyễn Sỹ C, sinh ngày 31/8/2011 cho chị Trần Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[2.2]. Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011639, ngày 11/01/2022.

[4]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Chị Trần Thị L vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Quyết T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ