- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sen-Phước"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị S. Chị S được ly hôn anh P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H. PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2022. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lâm và bà Trần Thị Xuân Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thể, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 146/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 03/3/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị S, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ dân phố Loan Lý, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Bị đơn: Anh P, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ dân phố Loan Lý, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 24 tháng 9 năm 2021 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị S trình bày như sau:
Chị và anh P chung sống với nhau từ năm 2002 đến năm 2010 hai vợ chồng ly hôn. Sau đó, chị S và anh P mới đi đăng ký kết hôn lần thứ hai vào ngày 12/01/2011tại Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn lần hai vợ chồng sống có hạnh phúc được thời gian 06 tháng, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả xúc phạm nhau, không tôn trọng nhau. Từ tháng 7/2021 nguyên đơn và bị đơn sống ly thân cho đến nay đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được 2 bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay nguyên đơn không còn tình thương yêu anh P nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về việc nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là Phan Hoàng Tiểu Bảo, sinh ngày 03/11/2002 và Phan Nhật Tường, sinh ngày 26/02/2012. Đối với cháu Bảo đã trên 18 tuổi, không bị nhược điểm về thể chất, tâm thần nên chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Tường nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được trực tiếp nuôi dưỡng cho dến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao giấy khai sin; Bản sao chứng minh nhân dân; Bản sao sổ hộ khẩu.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập; các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh P được biết việc chị S xin ly hôn anh và nuôi con.
Trong thời hạn luật định, vào ngày 22/11/2021,bị đơn anh P có văn bản trình bày ý kiến về cơ bản như chị S đã trình bày. Về việc nuôi con, bị đơn đồng ý giao cháu Phan Nhật Tường sinh ngày 26/02/2012 cho chị S chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản chung bị đơn không có ý kiến gì, không yêu cầu hòa giải và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về thủ tcj tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn có đơn xin vắng mặt các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa nên cần được chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. ngày 22/11/2022, bị đơn có bản trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh P có đăng ký kết hôn vào ngày 12/01/2011 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh P là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa chị S và anh P, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Sau khi kết hôn lại lần thứ hai thì giữa vợ chồng chỉ sống chung với nhau một thời gian ngắn, từ tháng 7/2021 cho đến nay hai người đã sống ly thân. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được 2 bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được.Do vậy hôn nhân của chị S và anh P đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S.
Về việc nuôi con: Đối với cháu Phan Hoàng Tiểu Bảo đã trên 18 tuổi, không bị nhược điểm về thể chất, tâm thần, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Phan Nhật Tường, trong quá trình làm việc tại Tòa án cháu Tường cũng có nguyện vọng được sống với mẹ, anh P cũng đồng ý nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị S rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị S không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh P trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị S. Chị S được ly hôn anh P.
2. Về việc nuôi con: Giao cháu Phan Nhật Tường, sinh ngày 26/02/2012 cho chị S được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tường đủ 18 tuổi. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị S phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị S đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0002322, ngày 03/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị S đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Đương sự; - UBND thị trấn L; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sang HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |