- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, chia con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho chị Cao Thị Kiều O ly hôn anh Trần Tiến T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 37/2022/HNGĐ - ST Ngày: 19/5/2022 V/v ly hôn giữa chị O và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thị Của, ông Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Thanh Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2022/HNGĐ – TLST ngày 25 tháng 01 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/5/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Cao Thị Kiều O; sinh năm 2000
Địa chỉ: thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2. Bị đơn: anh Trần Tiến T; sinh năm 1996
Địa chỉ: tổ dân phố *, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2022 và trong bản tự khai cũng như tại quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị Kiều O trình bày:
- về hôn nhân: chị và anh T kết hôn năm 2018 tại UBND thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc. Quá trình chung sống hai vợ chồng sống không hạnh phúc do vợ chồng không hợp tính tình, không cùng quan điểm sống, sống không hợp nhau, anh Tùng là người nghiện ma túy, ngoại tình, luôn bỏ bê gia đình không chăm lo cho con cái, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh T.
- con chung của vợ chồng: hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Đan T, sinh ngày 03/4/2018 hiện tại con đang ở với chị O, nguyện vọng của chị O là xin được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- tài sản chung và nợ chung: không có.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do anh T không đến Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Ngày 15/3/2022, Tòa án đã lấy lời khai của anh T tại tổ dân phố *, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, nội dung: anh T đồng ý ly hôn với chị O. Hai vợ chồng có 01 con chung là Trần Đan T, sinh ngày 03/4/2018, giao con chung cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: không có.
Tại phiên tòa:
Chị O giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Về con chung: nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con là Trần Đan T, không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 68, 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- về nội dung: về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Cao Thị Kiều O và anh Trần Tiến T; về con chung: giao con chung là Trần Đan T cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, do chị O không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét; về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét; chị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: chị O yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh T, tranh chấp trong vụ án là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại tổ dân phố *, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: chị O và anh T kết hôn với nhau vào năm 2018 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc và được UBND thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
. Xét yêu cầu ly hôn của chị O: vợ chồng chị O và anh T không còn yêu thương, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau nữa thể hiện qua bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2020. Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân của chị O và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản lấy lời khai anh T cũng đồng ý ly hôn nhưng do anh T không có mặt tại phiên tòa nên Tòa án không công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa mà Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các đương sự, chị O và anh T thuận tình ly hôn.
. Về con chung: hai vợ chồng có 01 con chung Trần Đan T, sinh ngày 03/4/2018, Hội đồng xét xử xét thấy: hiện tại con đang ở chị O, chị O cũng có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con cần giao cháu T cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do chị O không yêu cầu anh Tùng cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của đương sự tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng.
. Về tài sản chung và các khoản vay nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xét.
. Về án phí: theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị O phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Cao Thị Kiều O ly hôn anh Trần Tiến T.
2. Về quan hệ con chung: giao con chung là cháu Trần Đan T, sinh ngày 03/4/2018 cho chị Cao Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị O không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của đương sự tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con thì cha, mẹ trực tiếp nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không có nên Tòa không xét.
4. Về án phí: chị Cao Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000555 ngày 25/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.
5. Quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/5/2022). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Minh Hóa; - THADS huyện Minh Hóa; - TAND tỉnh Quảng Bình; - UBND thị trấn Quy Đạt; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Đức Cảnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |