vanban.org

Bản án 37/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh L được ly hôn anh Hoàng Văn Tr. Về con chung: Giao con Hoàng Minh Q, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2008 cho chị Trần Thị Minh L nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc anh Hoàng Văn Tr cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Minh L và Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22-7-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thôn;

Bà Trương Thị An.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 596/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh L, đăng ký hổ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Khu A, xã K, huyện T, tỉnh P; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Tr, địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2022, các bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Minh L trình bày:

Chị Trần Thị Minh L và anh Hoàng Văn Tr kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 5 năm 2008. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách, vợ chồng sống với nhau nhưng không có hạnh phúc, anh T không quan tâm đến gia đình, vợ con, chị L góp ý lại xảy ra cãi nhau, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên có đơn xin ly hôn anh T. Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Hoàng Minh Q, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2009. Chị L đề nghị được nuôi con Hoàng Minh Q, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị L trình bày không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Văn Tr mặc dù đã được tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án để trình bày ý kiến của mình về vụ án nhưng anh Hoàng Văn Tr không đến tòa án nên không có lời khai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị L đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh T không đến tham gia phiên tòa không có lý do là chưa chấp hành quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho chị L và anh T được ly hôn; về con chung đề nghị Hội đồng xét xử giao con Hoàng Minh Q, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2008 cho chị L nuôi dưỡng, tạm hoãn việc anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị L không đề nghị tòa án xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị L phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị L có đơn khởi kiện xin ly hôn anh T nên xác định đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn anh T có nơi cư trú tại thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị L vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh T đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 5 năm 2008, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2010 đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tình tình không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau nên chị L đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh T. Căn cứ tài liệu xác minh tại địa phương thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Hoàng Minh Q, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2009, chị L đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét chị L đang là người trực tiếp nuôi cháu Hoàng Minh Q và cháu Hoàng Minh Q trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy cần giao cho chị L nuôi con, chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên cần tạm hoãn việc anh T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị L là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị L và anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh L được ly hôn anh Hoàng Văn Tr.

2. Về con chung: Giao con Hoàng Minh Q, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2008 cho chị Trần Thị Minh L nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc anh Hoàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Minh L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị Minh L đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001205 ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị Minh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Trần Thị Minh L và anh Hoàng Văn Tr được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ