- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân Hàng T - Lưu Thị Thanh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2022/DS-ST. Ngày: 31-5-2022. V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Ngọc Thu.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khôi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.
Trụ sở: đường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Hồng S; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh Vĩnh Long. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tiến L; chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP T - Chi nhánh Vĩnh Long. (Giấy ủy quyền số 297/2021/UQ-CNVL ngày 16/8/2021) (vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Lưu Thị Thanh T, sinh năm 1980; nơi cư trú: đường D, Phường M, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/8/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Tiến L là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T (gọi tắt là Ngân hàng T) trình bày như sau:
Ngày 27/12/2016 Ngân hàng T có ký với chị Lưu Thị Thanh T hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) đã thỏa thuận: Hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng; thời hạn sửu dụng đến tháng 12/2019; thỏa thuận lãi suất vay thay đổi theo từng thời kỳ của ngân hàng. Mức lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 2,6%/tháng; hình thức vay tín chấp (không thế chấp tài sản); mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình thực hiện chị T thực hiện giao dịch và được phía ngân hàng T đã nhiều lần gởi thông báo yêu cầu chị T trả nợ nhưng chị T không thực hiện.
Tính đến ngày 31/05/2022 chị T còn nợ Ngân hàng T số tiền tổng cộng là 28.697.708 đồng. Trong đó: Nợ gốc 18.002.537 đồng và lãi quá hạn 10.695.171 đồng.
Bị đơn Lưu Thị Thanh T được Tòa án triệu tập 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng T.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn Lưu Thị Thanh T. Cụ thể: Ngân hàng T yêu cầu cá nhân chị Lưu Thị Thanh T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 28.697.708 đồng tính đến ngày 31/5/2022 (trong đó nợ gốc 18.002.537 và lãi suất quá hạn 10.695.171 đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cấp thẻ từ ngày 01/6/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Bị đơn Lưu Thị Thanh T được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Lưu Thị Thanh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp theo quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu chị Lưu Thị Thanh T trả nợ gốc lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (áp dụng cho khách hàng cá nhân). Do đó đây là vụ án tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự.
Bị đơn Lưu Thị Thanh T có nơi cư trú trên địa bàn thành phố Vĩnh Long vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Lưu Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho cho Ngân hàng số tiền tổng cộng là 28.697.708 đồng tính đến ngày 31/5/2022 và yêu cầu tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cấp thẻ từ ngày 01/6/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Đối với khoản tiền nợ gốc: Hội đồng xét xử nhận thấy ngày 27/12/2016 chị Lưu Thị Thanh T ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho khách hàng cá nhân) với Ngân hàng T thỏa thuận hạn mức sử dụng thẻ là 20.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng chị T chưa thanh toán nghĩa vụ còn lại đến cuối kỳ (ngày 28/02/2021) với số tiền là 18.002.537 đồng cho Ngân hàng đã vi phạm các Điều 2, 18, 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng T. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng T theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Đối với khoản tiền lãi quá hạn: Đến ngày 31/5/2022 Ngân hàng T xác định chị Lưu Thị Thanh T còn nợ lãi suất quá hạn là 10.695.171 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận lãi suất quá hạn là 150% lãi suất vay như giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và việc Ngân hàng T yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ là có căn cứ đúng pháp luật phù hợp với quy định Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn Lưu Thị Thanh T phải chịu 1.434.800 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí là 549.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a và b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 147 và Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.
Buộc bị đơn Lưu Thị Thanh T phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền vốn lãi là 28.697.708 đồng (hai mươi tám triệu sáu trăm chín mươi bảy ngàn bảy trăm lẻ tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là 18.002.537 đồng (mười tám triệu không trăm lẻ hai ngàn năm trăm ba mươi bảy đồng) và lãi suất quá hạn là 10.695.171 đồng (mười triệu sáu trăm chín mươi lăm ngàn một trăm bảy mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/6/2022) bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
Buộc bị đơn Lưu Thị Thanh T phải chịu 1.434.800 đồng (một triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn tám trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí là 549.000 đồng (năm trăm bốn mươi chín ngàn đồng) theo biên lai thu số N0 0000863 nộp ngày 07/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.
3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND TPVL; - CCTHADS TPVL; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hải Châu |