vanban.org

Bản án 37/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 07(bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày ngày 18/6/2021. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên uan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2021) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Minh T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 37/2021/HSST
Ngày 18/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA - TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep

-Các Hội thẩm nhân dân:

+Ông Vũ Trung Hải

+Ông Nguyễn Văn Liễu

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương Dịu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/HSST, ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Hồ Minh T, sinh năm 1988 tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Buôn Ia Rnho, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn T1 và bà Huỳnh Thị D (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Rơ Ô H’L và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2021 cho đến nay và hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị RCom H’C, sinh năm 1983

Trú tại: Buôn Ia Rnho, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

-Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan trong vụ án:Chị Rơ Ô H’L, sinh năm 1989

Trú tại: Buôn Ia Rnho, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Người phiên dịch: Anh Nay Dăm Tr, sinh năm 1986

Trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Vào khoảng 19 giờ ngày 10/4/2021, Hồ Minh T cùng uống rượu với vợ chồng chị Rcom H’C, sinh năm 1983 và anh Rcom Lắk tại buôn Ia Rnho, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Tuyến đi về nhà mình gần nhà chị Rcom H’C. Khoảng 01giờ sáng ngày 11/4/2021, T nhìn qua nhà chị H’C thấy dến sáng nên Tuyến qua nhà Rcom H’C gọi “H’C ơi” thì không thấy ai trả lời. Tuyến đi vào nhà thì thấy vợ chồng H’C đang ngủ, Tuyến nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh đang sạc pin trên chiếc tivi ngoài phòng khách. Lúc này, nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại bán lấy tiền tiêu xài nên T đã lấy và bỏ chiếc điện thoại vào túi quần rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 6 giờ ngày 11/4/2021, T bỏ chiếc điện thoại vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Fervor, loại xe Wave, biển kiểm soát 81K9-4404 đi ra chợ Phú Túc để bán lấy tiền tiêu xài.

Còn về phía chị H’C, sáng ngày 11/4/2021 khi tỉnh dậy thì không thấy điện thoại đâu, nên nghi ngờ là T trộm cắp điện thoại của mình. Cho nên, khi T đi ra chợ Phú Túc thì chị H’C đi theo sau, khi đến chợ Phúc Túc thì chị đã thấy T lấy chiếc điện thoại từ trong cốp xe ra để bán thì chị H’C đã chạy đến la lên thì Tuyến bỏ chạy, để lại chiếc xe mô tô, còn chị Rcom H’C trình báo công an huyện Krông Pa.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 19/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Pa kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh dương, có số IMEI1: 861177051325631, số IMEI2: 861177051325623, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0772548445 do Hồ Minh T trộm cắp có giá trị là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người người bị hại không bên nào có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 35/CT - VKS ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Hồ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Tuyến đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Người bị hại có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hồ Minh T.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hồ Minh T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Hồ Minh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lần phạm tội: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/4/2021, sau khi uống rượu với vợ chồng chị Rcom H’C và anh Rcom L tại buôn Ia Rnho, xã Đất Bằng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai thì đến 22 giờ cùng ngày bị cáo Hồ Minh T về nhà mình gần nhà chị Rcom H’C. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 11/4/2021, bị cáo T nhìn qua nhà chị H’C thấy dến sáng nên bị cáo T qua nhà chị Rcom H’C gọi “H’C ơi” thì không thấy ai trả lời và thấy vợ chồng chị H’C đã ngủ, bị cáo đi vào nhà thì thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh đang sạc pin trên chiếc tivi ngoài phòng khách, bị cáo T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo T đã lấy và bỏ chiếc điện thoại vào túi quần rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 06 giờ ngày 11/4/2021, bị cáo T bỏ chiếc điện thoại vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Fervor, loại xe Wave, biển kiểm soát 81K9-4404 đi ra chợ Phú Túc để bán lấy tiền tiêu xài thì bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo Hồ Minh T đã lén lút, nhanh chóng, trực tiếp chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh của chị H’C có trị giá 3.500.000 đồng đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Hồ Minh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì tham lam, lười lao động, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã trực tiếp đi tìm sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt nhằm mục đích tư lợi bất chính gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đặc biệt để phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn đang có chiều hướng phức tạp và ngày càng gia tăng. Trong đó có loại tội “Trộm cắp tài sản” đứng hàng đầu trong các loại tội phạm xảy ra. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng giúp cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo Hồ Minh T khi lượng hình được quy định tại điểm h,i,s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuyến, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì xét thấy thu nhập của bị cáo không ổn định, đời sống còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô mà bị cáo T sử dụng đi lấy trộm tài sản của chị Rcom H là tài sản của chị Rơ Ô H’Lia. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản của chị H’C thì chị Rơ Ô H’L không biết nên không có cơ sở xứ lý chị Rơ Ô H’L là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Minh T chiếm đoạt của chị Rcom H’C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh dương, có số IMEI1: 861177051325631, số IMEI2: 861177051325623, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0772548445. Sau khi tội phạm bị phát hiện thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa đã thu giữ và trả lại điện thoại di động trên cho chị Rcom H’C. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, giữa bị cáo và người bị hại không bên nào có yêu cầu hay tranh chấp gì về phần dân sự nên trách nhiệm dân sự trong vụ án Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Fervor, loại xe Wave, biển kiểm soát 81K9-4404, số khung: CHRUM7X006438, số máy: P52FMH6006438 mang tên chủ sở hữu trong giấy tờ là Hoàng Minh H( Chiếc xe trên chị Rơ Ô H’L mua lại của Hoàng Minh H) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu xanh dương, có số IMEI1: 861177051325631, số IMEI2: 861177051325623, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0772548445; 01 xe mô tô nhãn hiệu Fervor, loại xe Wave, biển kiểm soát 81K9-4404, số khung: CHRUM7X006438, số máy: P52FMH6006438. Sau khi tội phạm bị phát hiện thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa đã trả lại điện thoại di động trên cho chị Rcom H’C và đã trả lại xe mô tô trên cho người quản lý hợp pháp là chị Rơ Ô H’L. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa giữa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không bên nào có yêu cầu hay tranh chấp gì về phần dân sự nên vật chứng trong vụ án Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.

Về án phí: Bị cáo Hồ Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 07(bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày ngày 18/6/2021.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Hồ Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên uan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2021) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ