- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Văn Tiến - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƢỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2021/HS-ST Ngày : 25 - 8- 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƢỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Ông Nguyễn Quý Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu;
2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.
- Thư ký Pên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia Pên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2021/TLST- HS, ngày 21 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Ngô Văn T, sinh năm 1997 tại huyện T, tỉnh B; nơi cư trú thôn A, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phước từ ngày 04/6/2021 đến nay, có mặt tại Pên tòa.
- Người bị hại: Nguyễn Văn T1, sinh ngày 02/6/2002; nơi cư trú thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1997; nơi cư trú xóm Đ, thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h00’ngày 17/11/2020, Ngô Văn T đi chơi ở thành phố Q, tỉnh Bình Định thì gặp một người bạn quen biết ngoài xã hội tên Đoàn Ngọc P (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Khi gặp T, P nói thiếu tiền tiêu xài nên rủ T cùng đi dạo tìm tài sản để trộm cắp thì T đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen (không rõ biển kiểm soát) chở T đi dạo tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà ông Nguyễn Văn T1 (là nhà em họ của T), P dừng xe ở phía trước và đứng cảnh giới, còn T lén lút đột nhập vào trong nhà ông T1 bằng cửa sau lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng của ông T1 để trên nền nhà ở đầu võng nơi ông T1 đang ngủ và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen của ông T1 để ở trên tủ ti vi mang ra ngoài chỗ P đang đợi, rồi lên xe P chở đi. Lúc này, ông T1 tỉnh giấc và phát hiện bị mất điện thoại nên đuổi theo thì thấy T lên xe mô tô của một người thanh niên đang chờ sẵn bỏ chạy. Sau khi trộm cắp được tài sản, P điều khiển xe mô tô chở T quay lại thành phố Q, chia tài sản trộm cắp được (T giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng; P giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen), rồi đi tiêu thụ riêng. Tối ngày 17/11/2020, do chưa tìm được nơi tiêu thụ nên T để chiếc điện thoại di động trong túi quần, rồi ngủ ở vỉa hè trên đường M, thành phố Q, đến sáng ngày 18/11/2020 thì phát hiện chiếc điện thoại di động trên đã bị mất. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước đã triệu tập làm việc đối với Ngô Văn T; tại Cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 07/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước đã định giá và kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng, mua mới và sử dụng từ tháng 8/2019 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 1.000.000 đồng (một triệu đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, mua mới và sử dụng từ tháng 10/2020 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-TP ngày 20 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Ngô Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Vào ngày 17/11/2020, Ngô Văn T đã lén lút trộm cắp của ông Nguyễn Văn T1 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng và 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen có tổng giá trị thành tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi nêu trên của Ngô Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại và được người bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những đánh giá và phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị miễn xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đề nghị không áp dụng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn T khai nhận: Vào ngày 17/11/2020 bị cáo gặp một người tên Đoàn Ngọc P quen biết ngoài xã hội và khi nghe P nói thiếu tiền tiêu xài rủ bị cáo đi trộm cắp tài sản thì bị cáo đồng ý. P chở bị cáo đi dạo tìm tài sản trộm cắp bằng xe môtô loại Sirius, không rõ biển kiểm soát của P. Khi đến nhà ông Nguyễn Văn T1 thì P dừng xe và đứng bên ngoài cảnh giới còn bị cáo lén lút đột nhập vào trong nhà ông T1 bằng cánh cửa sau lấy trộm được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen của ông T1 rồi mang ra chỗ P đang đứng đợi, sau đó P chở bị cáo đến thành phố Q chia tài sản trộm cắp, bị cáo giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng; P giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen rồi đi tiêu thụ riêng. Tối ngày 17/11/2020, do chưa tìm được nơi tiêu thụ nên bị cáo để chiếc điện thoại di động trong túi quần, rồi ngủ ở vỉa hè trên đường M, thành phố Q, đến sáng ngày 18/11/2020 thì phát hiện chiếc điện thoại di động trên đã bị mất. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian và số tài sản bị bị mất trộm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thu thập.
Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ sức khỏe và khả năng nhận thức việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện bất chấp sự trừng phạt của pháp luật. Ngày 07/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước đã định giá và kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Nokia 2, màu trắng, mua mới và sử dụng từ tháng 8/2019 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, mua mới và sử dụng từ tháng 10/2020 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng tài sản có giá trị thành tiền là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng), hành vi trên của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, gây khó khăn cho công tác điều tra và làm cho vụ án kéo dài, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải nghiêm khắc, để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi bị bắt và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo an tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng.
Xét những chứng cứ mà kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp; mức hình phạt đã đề nghị là gần tương xứng với nhận định của Hội đồng xét xử.
Đối với người bị cáo khai tên Đoàn Ngọc P đã có hành vi điều khiển xe mô tô loại Sirius, không rõ biển kiểm soát chở T đi trộm cắp tài sản tại nhà ông Nguyễn Văn T1, nhưng qua điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này, nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước tiếp tục xác minh làm rõ nhân thân, lai lịch của người này khi có đủ căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác.
Xét về bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Ngô Văn T đã bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn T1, ông T1 đã viết đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự còn qui định hình phạt bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 05 (năm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 04/6/2021.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2021). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết Bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Tuy Phước; - VKSND tỉnh Bình Định; - CQ CSĐT Công an huyện Tuy Phước; - CQ THAHS Công an huyên Tuy Phước; - Chi cục THADS huyện Tuy Phước; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Phòng KTNV và THAHS TAND T. Bình Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Quý Phúc |