vanban.org

Bản án 37/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Nhựt Tr 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Nhựt Tr cho Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nhựt Trung - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2021/HS-ST
Ngày: 14-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Vũ

Nơi công tác: Huyện Đoàn huyện Cờ Đỏ

2. Bà Lê Thị Xuân Hiền

Nơi công tác: Trường Trung học cơ sở thị trấn Cờ Đỏ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Trung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

- Trần Nhựt Tr, sinh ngày 31/8/2004 tại Giồng Riềng, Kiên Giang. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kiên và bà Nguyễn Thị Hạnh; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Anh Trần Văn K, sinh năm 1979 – là cha của bị cáo (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 – là mẹ của bị cáo (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc Long Uyên – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Nh, sinh năm 1991 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp Th, xã Thới Đ, huyện C, TP.Cần Thơ.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Th, xã Thới Đ, huyện C, TP.Cần Thơ.

2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Th, xã Thới Đ, huyện C, TP.Cần Thơ.

3. Bà Trần Thị M, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Ng, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

4. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1941 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

5. Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1966 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã Ng, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

6. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1951 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp X, xã Th, huyện C, TP.Cần Thơ.

7. Ông Nguyễn Văn Lượm, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Th, xã Th, huyện C, TP.Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 04/6/2021 Trần Nhựt Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55 đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Hoàng Nh thuộc ấp Th, xã Thới Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ để sửa xe. Khi đến trước cửa tiệm, không thấy anh Nh nên Tr dùng điện thoại di động của Tru để gọi vào số điện thoại của anh Nh thì Tr phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen của anh Nh đang sạc tại kệ đựng phụ tùng bên trong tiệm sửa xe không ai trông giữ. Do không có tiền tiêu xài và trả nợ nên Tr nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại này. Vì vậy, Tr đi vào bên trong tiệm rồi lấy điện thoại bỏ vào túi quần và đi bộ đến cầu Kênh Chùa thuộc xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang thì tắt nguồn điện thoại và cất giấu. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 68G1-727.55, Tr để lại tiệm sửa xe của anh Nh. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Nh phát hiện điện thoại di động bị mất và qua camera tại nhà anh Nguyễn Thanh Hùng, anh Nhi nghi ngờ Tr là người trộm điện thoại của anh nên tố giác đến Công an xã Thới Đông, huyện Cờ Đỏ. Qua quá trình làm việc, Tr thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, số IMEI 356167095622863 gắn sim số 0909.455.412; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, gắn sim số 0974.811.726, 0941.956.305; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Phụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL.HĐĐGTS ngày 16/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, mua vào tháng 3/2021 có giá trị 6.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 93/ĐT ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận: Trần Nhựt Tr có độ tuổi từ 17 tuổi 00 tháng đến 17 tuổi 06 tháng (tại thời điểm giám định ngày 27/9/2021).

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSCĐ ngày 22/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố Trần Nhựt Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Công nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cờ Đỏ đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, số IMEI 356167095622863 gắn sim số 0909.455.412 cho anh Nguyễn Hoàng Nh.

+ Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt Tr 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, gắn sim số 0974.811.726, 0941.956.305; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Phụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng Nh không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không tranh luận. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bài bào chữa: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo mà áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị hại anh Nguyễn Hoàng Nh yêu cầu Hội đồng xét xử cho bị cáo Trần Nhựt Tr được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì đối với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Do đó, việc điều tra, truy tố là hoàn toàn hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận, vào khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 04/6/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55 đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Hoàng Nh thuộc ấp Th, xã Thới Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ để sửa xe. Khi đến trước cửa tiệm, không thấy anh Nh nên bị cáo dùng điện thoại di động của bị cáo để gọi vào số điện thoại của anh Nh thì bị cáo phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen của anh Nh đang sạc tại kệ đựng phụ tùng bên trong tiệm sửa xe không ai trông giữ. Do không có tiền tiêu xài và trả nợ nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại này. Vì vậy, bị cáo đi vào bên trong tiệm rồi lấy điện thoại bỏ vào túi quần và đi bộ đến cầu Kênh Chùa thuộc xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang thì tắt nguồn điện thoại và cất giấu. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 68G1-727.55, bị cáo để lại tiệm sửa xe của anh Nh. Sau đó, bị cáo bị Công an mời làm việc và thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL.HĐĐGTS ngày 16/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, mua vào tháng 3/2021 có giá trị 6.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 93/ĐT ngày 28/9/2021 của Trung tâm pháp y Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận: Trần Nhựt Tr có độ tuổi từ 17 tuổi 00 tháng đến 17 tuổi 06 tháng (tại thời điểm giám định ngày 27/9/2021).

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Hoàng Nh với giá trị là 6.000.000 đồng do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi này được thực hiện trong lúc bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo qui định nên Viện Kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng mới có thể đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho bị hại, bị hại yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo, khi phạm tội bị cáo chỉ khoảng 17 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng, bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nơi cú trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Cho nên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng để giáo dục, răn đe bị cáo và việc này cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, bị cáo cũng được xem xét áp dụng các Điều 90, 91 Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Về xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, số IMEI 356167095622863 gắn sim số 0909.455.412. Đây là tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Hoàng Nh nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cờ Đỏ đã trả lại cho anh Nh là phù hợp và công nhận.

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, gắn sim số 0974.811.726, 0941.956.305. Đây là tài sản của bị cáo và không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Phụng. Đây là tài sản của bị cáo mua từ tiệm cầm đồ và hiện tại không ai tranh chấp, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng Nh không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhựt Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Nhựt Tr 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Nhựt Tr cho Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Nhựt Tr cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Công nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cờ Đỏ đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS 64GB màu đen, số IMEI 356167095622863 gắn sim số 0909.455.412 cho anh Nguyễn Hoàng Nh.

+ Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt Tr 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, gắn sim số 0974.811.726, 0941.956.305; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 68G1-727.55; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Phụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hoàng Nh không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Nhựt Tr phải chịu 200.000 đồng.

- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Tuyên án công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ