vanban.org

Bản án 37/2021/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 25/01/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện cụ Đặng Thị Nh, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 34/2019/HC-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho cụ Đặng Thị Nh. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện cụ Đặng Thị Nh, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 34/2019/HC-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 37/2021/HC-PT
Ngày 25/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông;

Ông Đặng Văn Hưng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 192/2020/TLPT-HC ngày 19 tháng 3 năm 2020 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 34/2019/HC-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự sau:

* Người khởi kiện: Cụ Đặng Thị Nh, sinh năm 1922; vắng mặt.

Địa chỉ: xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Chị Nguyễn Thị Cẩm Nh2, sinh năm 1993; địa chỉ: Văn phòng luật sư Thành V - phòng 206, Tòa nhà Đệ Nhất, số 78 Minh Kh, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.

* Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch: Ông Phan Xuân V1 - Phó Chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Diễn Ch: Ông Phan Xuân V1 - Phó Chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Phan Huy L và bà Phan Thị Nh1; địa chỉ: Tổ 3, khu 12, phường Mông D, thành phố Cẩm Ph, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

3. Anh Phan Văn D1; vắng mặt.

4. Anh Phan Văn H; vắng mặt.

Đều trú tại: xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

5. Ủy ban nhân dân xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Huy Ng - Chủ tịch; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 30/10/2017, cụ Đặng Thị Nh có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An với nội dung: Yêu cầu hủy Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh, trú tại xóm 3 xã Diễn Quảng, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An, buộc UBND huyện Diễn Ch cấp lại quyền sử dụng đất đúng đối tượng là gia đình con trai cụ là ông Phan Huy L1 và bà Phan Thị L2.

Tại phiên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ngày 14/12/2018, người đại diện theo ủy quyền của cụ Đặng Thị Nh thay đổi, bổ sung yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 cấp cho cụ Phan Thị Nh1; Hủy Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh, trú tại: xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Lý do khởi kiện: Năm 1994, UBND xã Diễn Q, huyện Diễn Ch có chủ trương xét giải quyết tách hộ cho gia đình, cụ đã xin tách hộ cho con trai là Phan Huy Long theo tiêu chuẩn nhà có hai dâu. Hội đồng xét bán đất xã Diễn Q đã xét duyệt cho cụ được mua đất tách hộ cho con trai. Gia đình cụ đã nộp 385.000 đồng tiền đất theo quy định của của chế độ 388, thửa đất có diện tích 350m2, tại thửa 799 tờ bản đồ số 4, tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An. Sau khi được giao đất cụ đã xây móng nhà, xây tường bao, đồng thời trồng cây canh tác. Năm 1999, không rõ lý do vì sao UBND huyện Diễn Ch đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đó cho bà Phan Thị Nh1 (là vợ ông Phan Huy L - con trai cụ). Năm 2000, cụ làm đơn yêu cầu UBND huyện Diễn Ch giải quyết, sau nhiều năm khiếu nại, cụ nhận được Quyết định số 1044/QĐ-UBND của UBND huyện Diễn Ch ban hành ngày 25/6/2009 về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh, kết luận việc cấp GCNQSDĐ nêu trên cho bà Phan Thị Nh1 là đúng quy trình thủ tục pháp luật.

Ngày 08/7/2009 cụ Đặng Thị Nh có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch.

Ngày 11/7/2009 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch trả lại đơn khởi kiện cho cụ Đặng Thị Nh.

Ngày 17/8/2010 cụ Đặng Thị Nh tiếp tục gửi đơn khởi kiện khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch.

Ngày 30/8/2010 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch trả lại đơn khởi kiện cho cụ Đặng Thị Nh với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Ngày 11/8/2011 theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, anh Phan Văn Tuấn (cháu nội của cụ Nh) có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch. Tuy nhiên, đến ngày 16/7/2012 anh Tuấn đã rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch đã đình chỉ giải quyết vụ án.

Tháng 10/2012 theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch anh Phan Văn Tuấn tiếp tục nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch. Đến ngày 26/4/2016 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch ra thông báo trả lại đơn khởi kiện vì hết thời hiệu khởi kiện.

Vì vậy, ngày 30/10/2017, cụ Đặng Thị Nh làm đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An với các yêu cầu nêu trên.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Phan Xuân V1 trình bày: Mặc dù hiện tại UBND xã Diễn Q không còn lưu giữ hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến việc xét bán đất cho dân năm 1994, kể cả phiếu thu nộp tiền đất của gia đình. Việc không lưu giữ được là do trong quá trình bảo quản hồ sơ bị mối mọt ăn hư hỏng không sử dụng được nên năm 2005 UBND xã Diễn Q đã lập biên bản tiêu hủy (Biên bản ngày 09/9/2005). Nhưng theo kết quả làm việc với các bên liên quan thì thời điểm xét giao đất, khi đi nộp tiền thì ông Phan Huy L chồng bà Phan Thị Nh1 đi nộp, xã ghi nhận vào sổ cho ông L. Hiện tại, tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không tìm thấy hồ sơ cấp đất cho bà Phan Thị Nh1, nhưng tại sổ địa chính, sổ mục kê và sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn lưu trữ và đều có tên bà Phan Thị Nh1 và chồng Phan L. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị Nh1, UBND huyện Diễn Ch căn cứ vào đơn xin cấp GCNQSDĐ và đề nghị của UBND xã Diễn Q để cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Ngoài ra, bà Phan Thị Nh1 đã bán thửa đất trên cho anh trai là ông Phan Văn Nhị, hiện nay 2 con trai của ông Phan Văn Nhị là anh Phan Văn D1 và anh Phan Văn H đã làm nhà ở trên thửa đất đó. Vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện UBND xã Diễn Q trình bày tại bản tự khai:

Nguồn gốc thửa đất 124, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa số 779, tờ bản đồ 04) cụ Đặng Thị Nh được cấp GCNQSDĐ đúng như nội dung trình bày của đại diện UBND huyện Diễn Ch. Năm 1994, UBND huyện Diễn Ch có chủ trương xem xét tách hộ cho những gia đình có hai con dâu trong nhà trở lên. Gia đình cụ Đặng Thị Nh thời điểm này có hai con dâu là bà Phan Thị Nh1 vợ ông Phan Huy L và bà Phan Thị L2 vợ ông Phan Huy L1 nên con dâu cụ Đặng Thị Nh là bà Phan Thị Nh1 là đối tượng được xét cấp đất theo quy định. Tuy nhiên, hiện nay UBND xã Diễn Q không còn lưu giữ được các tài liệu liên quan đến việc xét bán đất năm 1994. Qua kiểm tra hồ sơ liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ cho bà Phan Thị Nh1 tại thửa 124, tờ bản đồ 04 thể hiện: Tại sổ địa chính ghi tên Phan Thị Nh1 (Gái) diện tích 1652m2 trong đó thửa 04 có diện tích đất ở 200m2 đất vườn 150m2. Tại sổ mục kê ghi tên Phan Lâm L3 (chồng bà Phan Thị Nh1) diện tích 360m2 trong đó diện tích đất ở 200m2, đất vườn 160m2. Ngày 20/9/1999 bà Phan Thị Nh1 được UBND huyện Diễn Ch cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất nêu trên. Sau khi được giao đất cụ Đặng Thị Nh đã xây bờ tường bao phía bắc, xây móng nhà và sản xuất hoa màu, nhưng sau đó cụ Đặng Thị Nh đã tháo dỡ móng nhà và cho con rể sản xuất hoa màu trên đất. Đến năm 2008, bà Phan Thị Nh1 đã tổ chức dành lại đất. Còn gia đình ông Phan Huy L1 hiện đang ở trên thửa đất 258, tờ bản đồ 04. Việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước do thời gian đã lâu hồ sơ không còn lưu giữ được. Hiện nay, thửa đất số 124, tờ bản đồ 04 chưa được chuyển nhượng cho ai vì chưa qua UBND xã Diễn Q để làm thủ tục, nhưng hai hộ anh Phan Văn D1 và anh Phan Văn H là cháu ruột bà Phan Thị Nh1 đã xây dựng nhà trên thửa đất này. Nay cụ Đặng Thị Nh khởi kiện phía UBND xã Diễn Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phan Huy L và bà Phan Thị Nh1 quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần tuy nhiên đều có đơn xin vắng mặt và bày quan điểm ông bà không liên quan gì đến vụ án. Thửa đất nêu trên đã được UBND huyện Diễn Ch cấp GCNQSDĐ hợp pháp cho bà từ năm 1999, đến năm 2009 ông bà đã chuyển nhượng cho người khác. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Phan Văn D1 và anh Phan Văn H là người hiện nay đang trực tiếp sử dụng thửa đất (đã xây nhà trên đất mặc dù chưa làm thủ tục chuyển nhượng từ bà Nh1) mà UBND huyện Diễn Ch cấp cho bà Phan Thị Nh1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt để tiến hành làm việc và không có ý kiến gì đối với quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 34/2019/HC-ST ngày 04/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 116, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 Luật tố tụng hành chính; Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 sửa đổi bổ sung năm 2005; Điều 4, Điều 9, Điều 17, khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 34, khoản 2 Điều 37, Điều 46, Điều 47, Điều 48, điểm b khoản 1 Điều 50, khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Không chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị Nh yêu cầu hủy Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh; Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 tại thửa số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2 cho bà Phan Thị Nh1 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/11/2019, người khởi kiện là cụ Đặng Thị Nh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên nội dung kháng cáo của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị Nh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị Nh là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người khởi kiện không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ nào mới, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, các quy định của pháp lụật hiện hành, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của người khởi kiện trong hạn luật định, người khởi kiện đã có đơn xin miễn án phí theo quy định là hợp lệ nên được chấp nhận để xét.

Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện cụ Đặng Thị Nh thấy:

Về đối tượng khởi kiện: Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 cấp cho bà Phan Thị Nh1 là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 28/6/2009, cụ Đặng Thị Nh nhận được Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh.

Ngày 08/7/2009 cụ Đặng Thị Nh có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch.

Ngày 11/7/2009 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch trả lại đơn khởi kiện cho cụ Nh.

Ngày 17/8/2010 cụ Đặng Thị Nh tiếp tục gửi đơn khởi kiện khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch.

Ngày 30/8/2010 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch trả lại đơn khởi kiện với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Ngày 11/8/2011 theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, anh Phan Văn Tuấn (cháu nội của cụ Nh) có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch. Tuy nhiên, đến ngày 16/7/2012 anh Tuấn đã rút đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch đã đình chỉ giải quyết vụ án.

Tháng 10/2012 theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch anh Phan Văn Tuấn tiếp tục nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch đến ngày 26/4/2016 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch ra thông báo trả lại đơn khởi kiện vì hết thời hiệu.

Ngày 30/10/2017, cụ Đặng Thị Nh làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh nghệ An là đã quá thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, thấy rằng từ năm 2009 đến năm 2017, cụ Nh và cháu của cụ là anh Phan Văn Tuấn liên tục nộp đơn và yêu cầu Tòa án huyện Diễn Ch giải quyết nhưng do Tòa án hướng dẫn cho đương sự nhiều lần không chính xác là trường hợp do trở ngại khách quan. Vì vậy, cần chấp nhận đơn khởi kiện của cụ Đặng Thị Nh, giải quyết theo thủ tục chung và không thuộc trường họp đã hết thời hiệu khởi kiện.

Xét tính hợp pháp của Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh, trú tại: xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 cấp cho bà Phan Thị Nh1 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An tại thửa số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2. Hội đồng xét xử:

- Về trình tự thủ tục và thẩm quyền ban hành:

+ Đối với Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch: Năm 2000 cụ Đặng Thị Nh có đơn khiếu nại gửi UBND huyện Diễn Ch yêu cầu làm rõ tại sao UBND huyện Diễn Ch lại cấp GCNQSDĐ cho bà Phan Thị Nh1 đối với thửa đất số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh, UBND huyện Diễn Ch đã tiến hành thụ lý đơn, thành lập đoàn thanh tra xác minh nội dung khiếu nại sau đó tổ chức đối thoại (làm việc) với người khiếu nại là cụ Đặng Thị Nh đến ngày 25/6/2009, Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch ban hành Quyết định số 1044/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh. Như vậy khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh và việc trả lời khiếu nại của chủ tịch UBND huyện Diễn Ch bằng Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch đối với khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh là phù hợp với quy định tại Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 12, Điều 19, Điều 20, Điều 30, Điều 31, Điều 33, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 38 và Điều 39 Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 sửa đổi bổ sung năm 2005.

+ Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 cấp cho bà Phan Thị Nh1 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An tại thửa số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2.

Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc cấp GCNQSDĐ ở và đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ gia đình, chủ trương được phổ biến từ huyện, tới xã, thôn và từng hộ gia đình. Ngày 30/9/1999, UBND huyện Diễn Ch đã cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình trong toàn xã Diễn Q, trong đó có hộ cụ Đặng Thị Nh, bà Phan Thị Nh1 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật đất đai năm 1993.

- Về cơ sở pháp lý: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 cấp cho bà Phan Thị Nh1 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An tại thửa số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2. Ngoài ra, còn cấp một số diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

- Về nội dung cụ Đặng Thị Nh cho rằng việc UBND huyện Diễn Ch cấp đất sai đối tượng cho bà Phan Thị Nh1 tại thửa số 124, bản đồ số 04 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch. Hội đồng xét xử thấy:

+ Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 124, tờ bản đồ số 04: đây là thửa đất mà UBND xã Diễn Q cấp theo diện đối tượng gia đình có hai dâu tại thời điểm năm 1994 theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ trên trên toàn địa bàn huyện Diễn Ch, tại thời điểm đó gia đình cụ Đặng Thị Nh có hai con dâu là bà Phan Thị Nh1 vợ của ông Phan Huy L và bà Phan Thị L2 vợ ông Phan Huy L1. Đối tượng được xét cấp đất thuộc diện phải nộp tiền vào ngân sách. Thời điểm đó ông Phan Huy L là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài chính mặc dù không có hóa đơn thu tiền nhưng UBND xã Diễn Q xác nhận thời điềm đó người trực tiếp nộp tiền là ông Phan Huy L, điều này phù hợp lời khai của cụ Đặng Thị Nh cũng như lời khai của ông Phan Xuân Nh3 - nguyên cán bộ địa chính xã Diễn Q thời điểm đó, chính ông Phan Xuân Nh3 khai sau khi thu tiền của ông L thì ông đã nộp vào ngân sách của xã và ông cùng với một số cán bộ khác xuống trực tiếp giao đất nhưng ông không nhớ ai là người trực tiếp nhận đất và cũng không có biên bản bàn giao đất thực địa phù hợp lời khai của cụ Đặng Thị Nh.

Cụ Đặng Thị Nh cho rằng cụ mua thửa đất nêu trên là để tách hộ cho ông Phan Huy L1 và bà Phan Thị L2 chứ không phải tách hộ cho ông Phan Huy L vì lúc này ông Phan Huy L đi làm công nhân tại Quảng Ninh và chính cụ là người đưa tiền cho ông L đi nộp tiền đất và cụ là người trực tiếp nhận đất, tuy nhiên cụ không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh điều này và việc giao nhận đất cũng không có biên bản bàn giao thực địa nên không có căn cứ để xem xét đối với ý kiến này của cụ.

UBND xã Diễn Q thừa nhận không còn lưu trữ hồ sơ, các giấy tờ liên quan đến việc xét bán đất cho dân năm 1994, kể cả phiếu thu nộp tiền đất của gia đình do trong quá trình bảo quản mối mọt ăn hư hỏng không sử dụng được nên ngày 09/9/2005, UBND xã Diễn Q đã lập biên bản tiêu hủy. Tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Diễn Ch hiện tại không có hồ sơ cấp GCNQSDĐ của cụ Phan Thị Nh1. Tuy nhiên, căn cứ vào trang số 7, sổ mục kê chủ sử dụng thửa đất 124, tờ bản đồ số 4 có tên Phan Lâm (Liên) diện tích 360m2 trong đó 200m2 đất ở và 160m2 đất vườn. Tại sổ địa chính trang 155 chủ sử dụng Phan Thị Nh1 (Gái) tên chồng Phan L thửa 124, tờ bản đồ 4, diện tích 350m2 trong đó 200m2 đất ở và 150m2 đất vườn. Tại sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập ngày 15/12/1998 số vào sổ 822 tên chủ sử dụng Phan Thị Gái. Căn cứ vào đơn đăng ký biến động đất đai có xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Diễn Ch và biên bản làm việc của UBND xã Diễn Q và cán bộ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Diễn Ch ngày 25/6/2015 có sự biến động về số thửa trên GCNQSDĐ là thửa 124, tờ bản đồ số 4 trên bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2003 số thửa 779 tờ bản đồ địa chính và đã khẳng định hiện nay chính là thửa 779, tờ bản đồ 04.

Như vậy, mặc dù hồ sơ cấp GCNQSDĐ không còn lưu trữ nhưng việc cấp GCNQSDĐ cho bà Phan Thị Nh1 vẫn còn thể hiện rõ tại các sổ sách lưu trữ tại UBND xã Diễn Q từ năm 1998, điều này phù hợp với thực tế ông Phan Lâm chồng bà Nh1 chính là người thực hiện nghĩa vụ nộp tiền để được xét cấp đất tách hộ, phù hợp với lời khai của ông Phan Xuân Nh3, ông Trương Văn D1 - nguyên là cán bộ địa chính của UBND xã Diễn Q, là những người có trách nhiệm trực tiếp thu tiền, giao đất và lập hồ sơ xét duyệt cấp đất cho bà Phan Thị Nh1.

Cụ Đặng Thị Nh cho rằng sau khi được giao đất thì cụ đã xây móng nhà, xây tường bao đồng thời canh tác trên thửa đất đó đến ngày 24/8/2008 bà Phan Thị Nh1 đã tiến hành đòi lại đất, điều nay phù hợp với lời khai của người bị kiện. Cụ Đặng Thị Nh không cung cấp được tài liệu nào để chứng minh UBND xã Diễn Q làm các thủ tục cấp đất cho ông L1 và việc cấp đất cho bà Phan Thị Nh1 là cấp sai đối tượng.

Đối với việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước thể hiện: Căn cứ báo cáo của UBND xã Diễn Q toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước hàng năm từ năm 2003 trở về trước UBND xã Diễn Q không còn lữu trữ được. Từ năm 2004, 2005 bộ thuế nhà đất xã Diễn Q ghi hộ bà Liên (Đặng Thị Nh) diện tích chịu thuế là 200m2 nhưng không ghi rõ thửa đất nào thuộc đối tượng miễn thuế. Năm 2006, 2007 và 2008 bộ thuế ghi hộ bà Phan (toàn) Liên (Đặng Thị Nh) thửa 779, tờ bản đồ 4, diện tích là 450m2, diện tích chịu thuế là 200m2 thuộc đối tượng miễn thuế. Tuy nhiên, thời điểm này cụ Đặng Thị Nh là chủ sử dụng thửa 258, tờ bản đồ số 4 lại không thấy kê khai vào bộ thuế nhà đất của xã. Như vậy, việc cụ Đặng Thị Nh cho rằng từ năm 1994 đến nay cụ là người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất 124 (nay là thửa 779, tờ bản đồ 04) là không có căn cứ.

Như vậy, lời khai của cụ Đặng Thị Nh về việc ông Phan Huy L là người trực tiếp nộp tiền mua đất phù hợp lời khai của ông Phan Xuân Dũng - nguyên cán bộ địa chính xã Diễn Q, phù hợp báo cáo của UBND xã Diễn Q cũng như thực tế quá trình sử dụng đất và biến động thửa đất số 124, tờ bản đồ số 4, phù hợp với sổ mục kê, sổ địa chính còn lưu trữ tại UBND xã Diễn Q cũng như sổ cấp GCNQSDĐ thì việc UBND huyện Diễn Ch cấp GCNQSDĐ cho bà Phan Thị Nh1 tại thửa đất số 124 (nay là thửa 799), tờ bản đồ số 4 tại xóm 3, xã Diễn Q là đúng quy định tại các Điều 4, Điều 9, Điều 17, khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 34, khoản 2 Điều 37, Điều 46, Điều 47, Điều 48, điểm b khoản 1 Điều 50, khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

Ngoài ra, tại Công văn số 874/CAH-QLHC ngày 17/10/2019 của Công an huyện Diễn Ch cung cấp thông tin về việc bà Phan Thị Nh1 và ông Phan Huy L chuyển hộ khẩu đi địa phương khác thể hiện: Trước năm 2000 không có hồ sơ, tài liệu theo dõi nhân hộ khẩu; sổ theo dõi nhận hộ khẩu (NK3) được Công an xã Diễn Q lập từ năm 2000 trở lại đây lưu giữ tại UBND xã Diễn Q không có tên bà Phan Thị Nh1 và ông Phan Huy L cư trú tại địa bàn xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, không có căn cứ để khẳng định tại thời điểm được cấp GCNQSDĐ, bà Phan Thị Nh1 có cư trú trên địa bàn xã Diễn Q hay không.

Việc UBND huyện Diễn Ch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1523110 ngày 30/9/1999 đối với bà Phan Thị Nh1 tại xóm 3, xã Diễn Q, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An tại thửa số 124, tờ bản đồ số 04, diện tích 350m2 (nay là thửa 779, tờ bản đồ số 04) diện tích 350m2 đảm bảo trình tự, thủ tục và có cơ sở pháp luật. Vì vậy, Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 của Chủ tịch UBND huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết khiếu nại của cụ Đặng Thị Nh là có căn, và đúng pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo của cụ Đặng Thị Nh.

Về án phí: Cụ Đặng Thị Nh là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện cụ Đặng Thị Nh, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 34/2019/HC-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

2. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho cụ Đặng Thị Nh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ