vanban.org

Bản án 37/2021/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H. Buộc chị Nguyễn Thị H ( tên thường gọi vợ Út N) có nghĩa vụ trả cho anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H số tiền 232.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Án phí : Chị Nguyễn Thị H phải chịu 11.629.035 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H. Buộc chị Nguyễn Thị H ( tên thường gọi vợ Út N) có nghĩa vụ trả cho anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H số tiền 232.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự; Điều 440 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 37 /2021/DSST.
Ngày 29/3/2021.
Về việc tranh chấp: “ Hợp đồng
mua bán tài sản” .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tám .

2. Ông Quách Trung Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

Ngày 29/3/2021tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/TLST-DS ngày 05/01/2021 về việc tranh chấp“ Hợp đồng mua bán tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXX-ST ngày 24/02/2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

1- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1970.

2- Chị Lê Thị H, sinh năm 1973.

Cùng cư trú tại: ấp x, xã y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Ông Lê Hoàng Â, sinh năm 1964. Nơi cư trú: số 362B, tổ 18, khu x, thị trấn y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Theo văn bản ủy quyền lập ngày 29/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H ( tên thường gọi Út N), sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp x, xã y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( có mặt).

NÔI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/12/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H là ông Lê Hoàng  trình bày: Vợ chồng anh T và chị H là chủ đại lý thức ăn gia súc Tám T có ký hợp đồng bán thức ăn chăn nuôi gia súc với chị Nguyễn Thị H từ ngày 24/10/2017 đến ngày 02/5/2019 làm nhiều lần, đến khi kết thúc sổ thì chị H còn nợ số tiền là 206.280.000 đồng. Theo hợp đồng ký kết mỗi lần nhận thức ăn chậm nhất trong thời hạn 05 tháng phải thanh toán xong, nhưng phía chị H ngưng mua thức ăn từ ngày 02/5/2019 đến nay nhưng không trả.

Nay anh T và chị H yêu cầu chị H phải trả số tiền 206.280.000 đồng làm một lần và yêu cầu trả lãi là 9%/ năm từ ngày 03/10/2019 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị xác định có mua thức ăn chăn nuôi gia súc của anh T và chị H như ông  trình bày là đúng. Chị xác định còn nợ anh T và chị H với số tiền 206.280.000 đồng. Nay chị cũng đồng ý trả số tiền 206.280.000 đồng cho anh Tvà chị H nhưng xin trả dần mỗi năm là 20.000.000 đồng còn trả theo yêu cầu của T và chị H thì chị không có khả năng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện nay gặp khó khăn và xin không trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu tranh luận của các đương sự Hội đồng xét xử có nhận định:

- Về tố tụng:

- Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H yêu cầu chị Nguyễn Thị H trả số tiền 206.280.000 đồng về việc mua bán thức ăn gia súc nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của chị Nguyễn Thị H ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp được xác định là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại điều 430 Bộ luật dân sự .

- Về nội dung : Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai của đương sự và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H có bán thức ăn gia súc cho chị Nguyễn Thị H và việc mua bán này phía chị Nguyễn Thị H thừa nhận và xác định còn nợ anh T và chị H với số tiền 206.280.000 đồng nhưng đến nay không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó anh T và chị H khởi kiện yêu cầu chị H trả số tiền 206.280.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 430 bộ Luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T và chị H.

- Bị đơn chị Hxin trả dần mỗi năm là 20.000.000 đồng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện nay gặp khó khăn nhưng không được phía anh T và chị H đồng ý. Xét thấy số tiền trên đã lẽ chị Hphải trả theo đúng thỏa thuận theo hợp đồng mua bán thứ ăn ngày 24/10/2017 là không quá 5 tháng kể từ khi nhận hàng nhưng chị H đã ngưng nhận hàng từ ngày 02/5/2019 là vi phạm nghĩa vụ, làm ảnh hường đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh T và chị H. Do đó yêu cầu của chị H là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

- Về lãi suất khi thực hiện hợp đồng mua bán các bên không có thỏa thuận về mức lãi vi phạm như thế nào nay anh T và chị H yêu cầu chị H phải trả lãi suất là 9%/ năm và chị H xin không trả lãi. Hội đồng xét thấy chị H đã vi phạm nghĩa vụ nên phải có nghĩa vụ trả phần tiền lãi cho anh T và chị H. Anh T và chị H yêu cầu tính lãi là 9%/ năm là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Tvà chị H. Lãi suất 9%/ năm tính ra là 0.75%/ tháng. Căn cứ vào hợp đồng mua bán thức ăn ngày 15/7/2017 là không quá 5 tháng kể từ khi nhận hàng và theo đơn khởi kiện anh T và chị H và chị H xác định ngày cuối cùng chị H kết sổ không nhận hàng nữa là ngày 02/5/2019 nên chị H vi phạm nghĩa vụ tính từ ngày 03/10/2019 Hội đồng xét xử tính lãi từ ngày 03/10/2019 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Lấy mốc thời gian từ ngày chị H vi phạm là ngày 03/10/2019 tính đến ngày xét xử là 17 tháng nên số tiền lãi được tính như sau: 206.280.000 đồng X 17 tháng X 0.75%/ tháng = 26.300.700 đồng. Nên buộc chị H phải có nghĩa vụ trả cho anh Tân và chị Huyền số tiền lãi 26.300.700 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và lãi chị H phải trả cho anh T và chị H là 206.280.000 đồng ( vốn)+ 26.300.700 đồng (lãi) = 232.580.700 đồng.

- Về án phí : Chị H có đơn xin miễn án phí nhưng trường hợp của chị không thuộc quy định tại điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Do đó chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự

- Khoản 2 Điều 468 , Điều 430 và Điều 440 Bộ luật dân sự;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H. Buộc chị Nguyễn Thị H ( tên thường gọi vợ Út N) có nghĩa vụ trả cho anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H số tiền 232.580.700 đồng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí : Chị Nguyễn Thị H phải chịu 11.629.035 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho anh Phạm Văn T và chị Lê Thị H 5.969.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004635 ngày 05/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

3- Anh Phạm Văn T, chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ