vanban.org

Bản án 37/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 18/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu T và Nguyễn V n K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

C n cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Châu T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho bị cáo hư ng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Châu Thanh - Nguyễn Văn Khánh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu T và Nguyễn V n K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự n m; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HSST
Ngày: 18/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ng Hồ V n Kh i

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ng Nguyễn V n Hải.

2. ng Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên toà: ng Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: ng Võ Hoài Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 n m 2020, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2020/HSST, ngày 13/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST-HS ngày 06/11/2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Châu T, Sinh n m 1995, tại huyện PH, tỉnh Hậu Giang; Tên gọi khác: Bé Bự, Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp MT, xã HM, huyện PH, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe ô tô khách; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn V n H và bà Trần Thị S; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 12/8/2020, đến ngày 27/8/2020 cho gia đình bảo lĩnh đến nay.

2. Nguyễn V n K, Sinh n m 1994; tại thành phố NB, tỉnh Hậu Giang; Tên gọi khác: K Đá, Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu vực CS, phường HT, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Nguyễn V n P và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 20/8/2020 đến ngày 30/9/2020 cho gia đình bảo lĩnh đến nay. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Võ V n L1, sinh n m 1992 (Có mặt).

2/ Huỳnh Vũ L2, sinh n m 1994 (Có mặt).

Cùng trú tại: Ấp BN A, xã ĐT, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang.

- Người làm chứng:

1/ Nguyễn Thị Lệ T1, sinh n m 2000. (Có đơn xin vắng mặt);

2/ Võ L3, sinh n m 1962. (Có đơn xin vắng mặt);

3/ Huỳnh L4, sinh n m 1963. (Có mặt);

4/ Trần Đ1, sinh n m 1960. (Có đơn xin vắng mặt).

Cùng trú tại: Ấp BN A, xã ĐT, thành phố NB, Hậu Giang.

5/ Nguyễn L5, sinh n m 2000 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp SP 2, xã TT, thành phố NB, Hậu Giang.

6/ Trần N4, sinh n m 1988. (có mặt);

Trú tại: Ấp BN, xã ĐT, thành phố NB, Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Nguyễn Châu T và Nguyễn V n K bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào ngày 25/4/2020 gia đình bà Huỳnh L4 có xảy ra mâu thuẫn với gia đình ông Trần Đ1. Khoảng 18 giờ cùng ngày con ruột của bà L4 là Võ V n L1 và cháu bà L4 là Huỳnh Vũ L2, đi qua nhà ông Đ1 để hỏi chuyện, nhưng ông Đ1 nhà một mình sợ nên đóng cửa lại, lúc này L2, L1 có đập cửa nhưng ông Đ1 không m cửa, sau đó L2 và L1 đi về nhà uống rượu cùng với ông Võ L3, Trần N4. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Nguyễn Thị Lệ T1 (con nuôi của ông Đ1), hay tin trong nhà có L2, L1 qua cự cãi với ông Đ1, nên T1 điện thoại cho bị cáo Nguyễn Châu T kêu vào nhà bà L4 để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn hai bên, vì biết T có mối quan hệ quen biết với L1. Lúc này bị cáo T cùng Nguyễn V n K và Nguyễn L5 đang uống cà phê trước cửa trường Nguyễn Trãi (thuộc khu vực CD, phường LH, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang). Sau đó bị cáo T hỏi bị cáo K cho mượn xe, đồng thời kêu K đi cùng, để khi có xảy ra đánh nhau thì K hỗ trợ tiếp, bị cáo K đồng ý và đưa xe của L5 cho bị cáo T, bị cáo K sử dụng xe của mình ch L5 chạy theo phía sau bị cáo T. Khi đến nhà bà L4, bị cáo T gặp L2, L1 và những người trong gia đình L1, trong đó có ông L3 cầm hung khí dao tự chế xông ra định đánh T và K, thấy vậy bị cáo K sử dụng bình hơi cay xịt vào mắt của L2, đồng thời K lấy cây dao của L2 để cập vách nhà chém L2 01 cái trúng vào vùng bụng, L1 tiếp tục xông ra bị K xịt hơi cay vào mắt và dùng dao chém L1 02 cái trúng cánh tay trái của L1. Sau khi gây thương tích cả nhóm lên xe tẩu thoát, trên đường bị cáo K qu ng bỏ cây dao gây án, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số: 65/20/TgT ngày 22/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận: Vết thương phần mềm vùng bụng, kích thước 18 x 0,7cm, vết thương do vật sắc bén gây nên, tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khỏe của Huỳnh V n L2 là 3%.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số: 66/20/TgT ngày 22/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận: Vết thương phần mềm 1/3 trên cánh tay trái, kích thước 14 x 0,6cm; vết thương mặt ngoài sau 1/3 dưới cánh tay trái, kích thước 10 x 0,6cm, các vết thương do vật sắc bén gây nên, tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khỏe của Võ V n L1 là 21%.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-TPNB ngày 07/10/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, c n cứ nhân thân tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Châu T và Nguyễn V n K phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự n m 2015 được sửa đổi bổ sung n m 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Châu T từ 24 đến 36 tháng tù và Nguyễn V n K từ 24 đến 36 tháng tù. Đề nghị cho các bị cáo được hư ng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho các bị hại xong, các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên đề nghị không xem xét.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 60cm; bản rộng 4cm; 01 vỏ hộp giấy hiệu NATO.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, trong phần tranh luận các bị cáo không có tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

Bị hại Võ V n L1 xác nhận các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng (Ba chục triệu đồng); Bị hại Huỳnh Vũ L2 xác nhận các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng (Mười l m triệu đồng) nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm và vẫn giữ yêu cầu bãi nại trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ s nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 19 giờ ngày 25/4/2020 bị cáo T, bị cáo K cùng đi đến nhà bà L4 để hòa giải mâu thuẩn giữa gia đình bà L4 với gia đình ông Đ1, khi bị cáo T và K gặp L2, L1 và những người trong gia đình L1 thì xảy ra mâu thuẩn, trong đó có ông L3 (chồng bà L4) cầm hung khí dao tự chế xông ra định đánh T và K, bị cáo K sử dụng bình hơi cay xịt vào mắt của những người bên phía bị hại L2 và L1; đồng thời bị cáo K lấy cây dao của L2 để bên vách nhà của L2 và chém L2 01 cái trúng vào vùng bụng gây thương tích 3% và chém L1 02 cái trúng cánh tay trái của L1 gây thương tích 21%. Khi thực hiện hành vi các bị cáo có đầy đủ n ng lực nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó có đủ cơ s để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Ngã Bảy truy tố các bị cáo là đúng tội.

Về tính chất của vụ án và mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, nhưng không chọn giải quyết mâu thuẩn theo cách ôn hòa, ngược lại các bị cáo và cả những người bên bị hại chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực, sử hung khí chém nhau. Hành vi của các bị cáo gây tổn hại đến sức khỏe của các bị hại và làm mất an ninh, trật tự là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của con người, các bị cáo đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại.

Xét vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm không có tổ chức. Trong đó vai trò bị cáo T không phải là người trực tiếp gây thương tích cho các bị hại, nhưng bị cáo T là người rũ rê bị cáo K trong việc thực hiện tội phạm; Bị cáo K được bị cáo T rủ đi đánh nhau bị cáo K đồng ý, chuẩn bị bình xịt hơi cay và là người thực hành tích cực, trực tiếp dùng hung khí (dao sắc bén) gây thương tích cho Huỳnh Vũ L2 và Võ V n L1. Vậy nên áp dụng hình phạt đối với các bị cáo phải tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo và hậu quả đã gây ra cho các bị hại, để giáo dục, r n đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017 là có c n cứ.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thể hiện thành khẩn khai báo, n n n hối cải; Các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho những người bị hại và được những người bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan chức n ng đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự n m 2015. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự n m 2015 xử phạt bị cáo T và bị cáo K với mức án nêu trên và cho các bị cáo được hư ng án treo là có cơ s chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Đã thực hiện xong, các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 60cm; bản rộng 4cm; 01 vỏ hộp giấy hiệu NATO.

. Các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu T và Nguyễn V n K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- C n cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Châu T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho bị cáo hư ng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Châu T cho Ủy ban nhân dân xã HM, huyện PH, tỉnh Hậu Giang giám sát bị cáo T trong thời gian thử thách.

- C n cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn V n K 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho bị cáo hư ng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn V n K cho Ủy ban nhân dân phường HT, thành phố NB, tỉnh Hậu Giang giám sát bị cáo K trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần tr lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hư ng án treo.

Trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài 60cm; bản rộng 4cm; 01 vỏ hộp giấy hiệu NATO.

3.Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo T và bị cáo K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai tr m ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo, người bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ