- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội " Trộm cắp tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-ST Ngày 11/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
Thành phần tiến hành tố tụng gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Chính
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/10/1981, tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Trú tại: xóm N, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 03/12; Con ông Nguyễn Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Vợ Lê Thị T và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thị D, sinh năm 1999; Trú tại: xóm H, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lê Huy B, sinh năm 1988, Trú tại: thôn M, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/4/2020, Nguyễn Văn H và anh Lê Huy B đến cửa hàng điện tử T trên đường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh mua thiết bị phát wifi. Anh B vào cửa hàng, còn H đứng chờ ở vỉa hè phát hiện trong hộc để đồ phía bên trái xe mô tô Honda Vision màu nâu dựng bên cạnh có một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng của chị Nguyễn Thị D (theo kết luận định giá 3.500.000 đồng). Quan sát không ai để ý, H lấy điện thoại dấu vào trong lưng quần rồi đi sang cửa hàng bên cạnh mua mũ bảo hiểm. Khi quay lại, anh B hỏi có lấy trộm điện thoại không H trả lời không rồi cùng anh B về nhà, cất dấu trong tủ cá nhân. Ngày 03/4/2020, H đưa điện thoại đến Công an xã Đ, thành phố H tự thú.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSTPHT ngày 26/5/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như Quyết định đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 -09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 -18 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa. Có căn cứ kết luận: Nguyễn Văn H thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone 6S Plus trị giá 3.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị D là bí mật, lén lút. Bị cáo có đầy đủ năng lực và tuổi trách nhiệm hình sự. Do đó, Nguyễn Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Tự thú”, “Thành khẩn khai báo” quy định tại các điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp. Bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xét luận tội và đề nghị của kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, về mức án là thỏa đáng.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng cho chị Nguyễn Thị D là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội " Trộm cắp tài sản"
Xử phạt: Nguyễn Văn H 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Văn H cho UBND xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND TPHT ; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an TPHT; - T.H.A.P.T; - T.H.A.D.S TPHT; - Bị cáo, bị hại; - Sở TP Hà Tĩnh; - UBND xã T, TP Hà Tĩnh; - Lưu: HS - VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Đức Chính |