vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 06/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Cảnh K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/02/2020. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-ST
Ngày: 06 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Cù Thị Như Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thạch Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Cảnh K, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Bon P 3, xã X, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Cảnh C (đã chết) và bà Trần Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: 01, Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành án tính từ ngày 01/3/2018; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2010/HS-ST ngày 28/9/2010 của Toà án nhân dân thị xã Gia Nghĩa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”; bị bắt tạm giữ ngày 12/02/2020, hiện đang tạm giam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08h10’ ngày 12/02/2020, tại cổng Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Nông thuộc tổ 4, phường T, thành phố G, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang Lê Cảnh K đang tàng trữ trên người 11 gói nilon, bên trong chứa ma túy Heroine.

K khai nhận số Heroine trên K mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại làng dân tộc H’Mông, xã H, huyện G, tỉnh Đắk Nông với giá 1.700.000đ vào trưa ngày 10/02/2020 để sử dụng (K mua tổng cộng 14 tép Heroine, đã sử dụng hết 03 tép). Khám xét khẩn cấp nơi ở của K tại bon P 3, xã X, huyện Đ không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 05 gói nilon màu vàng và 06 gói nilon màu xanh không rõ hình dạng, bên trong đựng các chất rắn màu trắng (Niêm phong trong bì thư).

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 2020 màu xanh đen, số IMEL1: 860028041846056, số IMEL 2: 860028041846049.

- 01 sim di động số 0865711809.

- 01 xe mô tô hiệu Winer, BKS 48F1-138.57, số máy KC26E1150376, số khung 2609GY305673 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Trần Thị H.

Tại Bản kết luận giám định số 23/KLMT-PC09 ngày 17/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 11 gói, được niêm phong trong bì thư gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng là 1,0871 gam, là Heroine. Hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,7790 gam.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Lê Cảnh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 0,7790 gam ma túy hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO là tài sản của chị Lê Thị Thu P (SN 1995, là em gái K), sim di động số 0865711809 là tài sản của chị Lê Thị Thu V (SN 1988, là chị gái K), xe mô tô hiệu Winer, BKS 48F1-138.57 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô là tài sản của bà Trần Thị H (SN 1963, là mẹ K) do không liên quan đến vụ án nên ngày 31/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã trả lại cho chị P, chị V và bà H là các chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 08h10’ ngày 12/02/2020, cổng Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đắk Nông thuộc tổ 4, phường T, thành phố G, qua khám xét đã phát hiện Lê Cảnh K có hành vi tàng trữ trái phép 1,0871 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hội đồng xét xử nhận thấy: Lê Cảnh K có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý một cách cố ý với mục đích để sử dụng đã vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”; vừa chấp hành án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để sửa đổi mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật sự nghiêm khắc, cách ly bị cáo với xã hội mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới, cho nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Đối với 0,7790 gam ma túy hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO là tài sản của chị Lê Thị Thu P (SN 1995, là em gái K), sim di động số 0865711809 là tài sản của chị Lê Thị Thu V (SN 1988, là chị gái K), xe mô tô hiệu Winer, BKS 48F1-138.57 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô là tài sản của bà Trần Thị H (SN 1963, là mẹ K) do không liên quan đến vụ án nên ngày 31/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã trả lại cho chị P, chị V và bà H là hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lê Cảnh K, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch; Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đối với bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Cảnh K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/02/2020.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,7790 gam ma túy hoàn trả sau giám định.

- Chấp nhận ngày 31/3/2020 Cơ quan CảNH SÁT ĐIềU TRA Công an thành phố Gia Nghĩa đã trả lại cho chủ ở hữu hợp pháp: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, 01 sim di động số 0865711809, 01 xe mô tô hiệu Winer, BKS 48F1-138.57 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.

(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa ngày 29/5/2020).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Cảnh K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ