vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Y phạm tội "Giết người".

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Y 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/4/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Y giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Y phạm tội "Giết người".
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-ST
Ngày 30-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Thu Hà.

Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phùng Thị Thương.

2. Ông Hoàng Long Hính.

3. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nông Xuân Liền - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST-HS ngày 15/9/2020 đối với bị cáo:

Đặng Văn Y, sinh năm 1987, tại xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Minh, sinh năm 1969 và bà Bàn Thị Hoa, sinh năm 1969; có vợ là Thèn Thị L, sinh năm 1989 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2020; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Cao Xuân Hùng - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Hùng Đức, tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Bị hại: Cháu Đặng Thanh C, sinh ngày: 19/02/2013 (đã chết). Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Thèn Thị L, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 23/4/2020, Đặng Văn Y, trú tại thôn T, xã K, huyện B đến giúp gia đình nhà bà Nguyễn Thị H, người cùng thôn chuyển vật liệu xây dựng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, Y cùng ăn cơm, uống rượu cùng gia đình bà H khoảng 1 tiếng sau thì Y xin phép đi về nhà ngủ, còn mọi người vẫn tiếp tục ăn cơm uống rượu.

Đến 15 giờ cùng ngày, Y ngủ dậy ngồi hút thuốc lào tại bàn uống nước của gia đình thì thấy hai con là Đặng Thanh C, sinh năm 2013 và Đặng Duy H1, sinh năm 2015 đang chơi ở ngoài sân phía trước cửa nhà, do trời đang mưa nên Y quát C và H1 đi vào nhà không nghịch bẩn, sau đó C, H1 đi vào bếp rửa chân tay rồi ra đứng ở cửa bếp. Y tiếp tục quát và nói “Trời đang mưa nghịch bẩn hết rồi, mỗi đứa nhận mấy roi, cầm roi về đây cho bố” thì H1 cầm chiếc roi hóp dài khoảng 40cm để sẵn ở trong nhà từ trước, mang đến để ở cạnh cách Y khoảng 01m, C đứng ở gần cửa bếp nói “Xin lỗi bố, lần sau con không làm thế nữa”. Nhưng Y vẫn bực tức quát, mắng 02 con, khi hút thuốc lào xong Y đặt ống điếu xuống, C hoảng sợ mở cửa bếp chạy ra ngoài, H1 cũng chạy theo sau, thấy vậy Y đi ra cửa bếp đã thấy hai con đang chạy ra phía sau chuồng lợn, Y lại quát “Trời đang mưa, chạy ra ngoài làm gì, bố có làm gì đâu, quay về nhà đi”, C và H1 vẫn sợ, chạy theo đường mòn hướng ra đường bê tông liên thôn lên phía nhà bà Nguyễn Thị H. Y chạy đuổi theo sau hai con, vừa đuổi vừa quát “đứng lại, đứng lại”. Khi đuổi đến vị trí phía sau chuồng lợn của gia đình cách cửa bếp 14,2m, Y nhặt 01 cành hóp chiều dài 1,33m, đường kính khoảng 0,4cm tiếp tục đuổi theo C và H1, khi chạy đến đường bê tông liên thôn, H1 chạy lối bên trái, hướng lên phía nhà bà H, C chạy theo lối bên phải hướng ra cửa trước nhà Y, sau đó C chạy vào vườn keo đối diện nhà Y để gọi mẹ là bà Thèn Thị L cầu cứu. Y đuổi theo C đến sát hàng rào tre tại vườn keo, cách mép đường bê tông liên thôn trước cửa nhà Y 14,6m, C đứng lại gọi mẹ đang cắt cỏ cách vị trí C đứng là 13,7m, thì Y cũng đuổi kịp và dùng tay trái túm lấy phần lưng áo của C, tay phải cầm cành hóp vụt nhiều lần theo chiều ngang từ phải sang trái trúng vào phần lưng, mông, sườn của C. Bà L chạy đến can ngăn, dùng hai tay cầm, giữ vào cổ tay trái của Y nói “Con có làm sai gì đâu mà cứ đánh”, nhưng Y không nghe tiếp tục dùng cành cây hóp vụt nhiều lần liên tiếp theo chiều ngang từ phải sang trái trúng vào phần lưng, mông, sườn của C, làm cành cây hóp bị gẫy gập lại thành 03 đoạn. Y nhặt 01 cành cây keo dài khoảng 1,76m, đường kính 2,2cm, ngay cạnh đó, tay trái nắm vào lưng áo của C, rồi dùng tay phải vụt 02 đến 03 phát theo chiều ngang từ phải sang trái, trúng vào mông, lưng, sườn của C, làm cành cây keo bị gãy lìa thành 03 đoạn. Bà L vẫn can ngăn, dùng hai tay nắm giữ tay trái của Y, giằng co nhau và cả 02 đều bị ngã ra phía sau, cách vị trí C đứng khoảng 01m làm tay trái Y bị tuột ra khỏi áo của C. C gào thét kêu khóc và chạy ra đường bê tông liên thôn về hướng nhà bà Nguyễn Thị H, bà L cũng đứng dậy đi theo phía sau C. Đặng Văn Y đứng dậy đuổi theo đến vị trí cách mép đường bê tông khoảng 05 m, thì nhặt được 01 đoạn gỗ cây mít hình tròn, dài 1,84m, đầu to đường kính 4,8cm, đầu nhỏ đường kính 03 cm, đuổi theo C. Nghe thấy tiếng C kêu khóc, bà H chạy ra đường thì nhìn thấy cháu C chạy về phía mình, đi phía sau C là bà Thèn Thị L, còn Y tay đang cầm 01 đoạn cây gỗ hình tròn đuổi theo phía sau, đến cách vị trí C 1,4m thì Y dùng hai tay, tay trái cầm dưới, tay phải cầm trên cách nhau 30cm giơ lên vụt 01 phát theo chiều chếch chéo từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, từ sau ra trước, trúng vào đỉnh đầu bên trái Đặng Thanh C, cháu C bị ngã úp mặt xuống mặt đường bê tông nằm bất tỉnh, Y vứt cây gỗ xuống đường bê tông và đứng phía sau C ngã, còn bà L và bà H chạy đến bế cháu C vào nhà. Được lúc sau thấy tình trạng sức khỏe cháu C chuyển biến xấu nên Đặng Văn Y và bà L đưa cháu C đến Bệnh viện đa khoa huyện B, sau đó được chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang cấp cứu, do vết thương nặng nên khoảng 01 giờ ngày 24/4/2020 cháu C đã tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 24/4/2020 xác định: Vùng thái dương đỉnh trái có vết thương đã khâu 07 mũi chỉ, dài 08cm, mở rộng vết thương kiểm tra thấy: Tụ máu dưới da, khuyết xương vùng đỉnh kích thước 3,5x3cm, còn 01 mảnh xương rời, tụ máu ngoài màng cứng, rách màng cứng, dập não vùng đỉnh trái (chảy máu).

Tại bản giám định pháp y tử thi ngày 04/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Đặng Thanh C “Do chấn thương sọ não nặng, dập não, chảy-tụ máu vùng đỉnh trái diện rộng”. Cơ chế hình thành thương tích và vật gây thương tích “tổn thương vùng đỉnh đầu bên trái: Do vật tày tác động 01 lực mạnh, hướng từ trên xuống theo trục cơ thể, gây bầm tím, tụ máu dưới da, vỡ xương hộp sọ, rách màng cứng, dập não, chảy-tụ máu diện rộng”.

Cáo trạng số 23/CT-VKS.P2 ngày 26/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Đặng Văn Y về tội “Giết người” theo các điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Y phạm tội "Giết người". Áp dụng các điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn Y từ 18 (mười tám) đến 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/4/2020).

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng đã thu giữ không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đặng Văn Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo - ông Cao Xuân Hùng trình bày: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Đặng Văn Y về tội "Giết người" theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức án Kiểm sát viên đề nghị là quá nghiêm khắc, vì bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã từng tham gia quân ngũ nên Luật sư đề nghị Hội đồng xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) năm đến 16 (mười sáu) năm tù.

Trong phần tranh luận bị cáo trình bày: Nhất trí với luận cứ bào chữa của Luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn Y đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận giữa bị cáo và bị hại có quan hệ cha con và không có mâu thuẫn từ trước, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo đã uống rượu từ trưa, khi thấy các con nghịch bẩn ngoài mưa bị cáo đã quát mắng các con trong đó có cháu Đặng Thanh C, sinh ngày 19/2/2013.

Trong khi đuổi đánh cháu C, vì cho rằng cháu C không nghe lời, vợ bị cáo bênh con nên bị cáo đã rất bực tức dẫn đến không làm chủ được bản thân, bị cáo dùng cành cây tre hóp dài 1,33m, đường kính 0,2cm; 01 đoạn cây gỗ keo khô dài 1,76m vụt liên tiếp nhiều lần vào vùng mông, lưng, sườn của cháu C, sau đó bị cáo nhặt đoạn cây gỗ mít khô, dài 1,84m, đường kính đầu to 4,8cm, đường kính đầu nhỏ 03cm ở ven đường vụt 01 phát theo chiều chếch chéo từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, từ sau ra trước trúng vào phần đỉnh đầu bên trái cháu Đặng Thanh C làm cháu C bị ngã úp mặt xuống mặt đường bê tông bất tỉnh; mặc dù được gia đình đưa đi cấp cứu kịp thời nhưng đến 01 giờ ngày 24/4/2020, cháu C đã tử vong tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thể hiện tại các bút lục: "Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm", bút lục 01, 21; "Biên bản sự việc", bút lục 02, 03; "Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường", bút lục 04 đến 13; "Bản ảnh khám nghiệm tử thi", bút lục 14 đến 20; "Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường", bút lục từ 24 đến 31; "Biên bản tạm giữ đồ vật", bút lục 113; "Bản kết luận giám định pháp y tử thi", bút lục 119; "Kết luận giám định", bút lục 122, 123; "Giấy khai sinh cháu Đặng Thanh C", bút lục 201…

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến công khai tại phiên tòa đã xác định được nguyên nhân dẫn đến cái chết của cháu Đặng Thanh C là do bị cáo dùng đoạn cây gỗ mít khô, dài 1,84m, đường kính đầu to 4,8cm, đường kính đầu nhỏ 03cm vụt 01 phát vào phần đỉnh đầu bên trái của cháu C dẫn đến cháu bị“chấn thương sọ não nặng, dập não, chảy-tụ máu vùng đỉnh trái diện rộng”.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Đặng Văn Y đã cấu thành tội "Giết người" với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "Giết người dưới 16 tuổi" và "Có tính chất côn đồ" được quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác là khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ.

Cho dù là người dân tộc thiểu số nhưng bị cáo có trình độ văn hóa nhất định, bị cáo cũng đã từng tham gia quân ngũ nên bị cáo buộc phải nhận thức được cháu Đặng Thanh C là con gái ruột của bị cáo mới được hơn 7 tuổi, lứa tuổi còn nhiều hiếu động rất cần sự quan tâm, chăm sóc, dạy bảo ân cần của cả bố và mẹ, trong khi cháu và em trai của mình đã biết nhận lỗi, cháu khóc lóc van xin và cố gắng bỏ chạy về phía mẹ đẻ của cháu để cầu cứu, tránh đòn roi của người cha.

Chỉ vì một lý do hết sức nhỏ nhặt, cho rằng cháu không nghe lời và vợ mình bênh con nên bất chấp sự can ngăn của vợ, tiếng gào thét của con gái, bị cáo vẫn nhẫn tâm hết lần này đến lần khác, dùng roi bằng cây hóp, bằng cành keo vụt vào nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể cháu C cho đến gẫy, gây cho cháu đau đớn về thể xác, hoảng loạn về tinh thần.

Không dừng lại ở đó, khi cháu C bỏ chạy được bị cáo vẫn cố ý đuổi theo cháu, dùng đoạn gỗ cây mít khô nhặt được ven đường vụt một phát trúng vào đỉnh đầu bên trái là vùng trọng yếu của cơ thể, tước đi tính mạng của cháu C, là con gái của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật và sự phi nhân tính của người cha đối với chính con đẻ của mình, bị dư luận xã hội lên án gay gắt nên cần phải có biện pháp hình sự xử lý bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, có như vậy mới đủ để trừng trị bị cáo, đồng thời có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với bị hại là con đẻ của bị cáo nên thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với các tình tiết: Bị cáo tích cực đưa bị hại đến các cơ sở y tế để cứu chữa, sau khi bị hại mất bị cáo cùng gia đình lo mai táng cho cháu, bị cáo đã có thời gian tham gia quân ngũ Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên sẽ được cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định "Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.", do bị cáo không thuộc trường hợp lợi dụng nghề nghiệp hoặc nơi cư trú để phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với mức án Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 16 năm tù là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, do đó không được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 cành cây tre bị gãy gập dài 1,33m, đường kính 0,4cm bị gãy gập 03 đoạn, trên cành tre có nhiều mấu mắt; 01 đoạn cây gỗ khô hình tròn bị gãy thành 03 đoạn (01 đoạn dài 50cm, đường kính 02cm; 01 đoạn dài 56cm, đường kính 2,3cm; 01 đoạn dài 70cm, đường kính 1,8cm); 01 đoạn cây gỗ khô, phần vỏ bị bong tróc, trên thân cây có nhiều mấu mắt, dài 1,84m, đường kính đầu to 4,8cm, đường kính đầu nhỏ 03cm; do vật chứng trực tiếp liên quan đến tội phạm nhưng không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Văn Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Y phạm tội "Giết người".

2. Áp dụng các điểm b, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Y 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/4/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cành cây tre bị gãy gập dài 1,33m, đường kính 0,4cm bị gãy gập 03 đoạn, trên cành tre có nhiều mấu mắt;

- 01 (một) đoạn cây gỗ khô hình tròn bị gãy thành 03 đoạn (01 đoạn dài 50cm, đường kính 02cm; 01 đoạn dài 56cm, đường kính 2,3cm; 01 đoạn dài 70cm, đường kính 1,8cm);

- 01 (một) đoạn cây gỗ khô, phần vỏ bị bong tróc, trên thân cây có nhiều mấu mắt, dài 1,84m, đường kính đầu to 4,8cm, đường kính đầu nhỏ 03cm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2020 giữa Công an tỉnh Hà Giang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Văn Y phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ