vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đinh Thế T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/72020. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đinh Thế T phải bồi thường cho chị Đinh Thị Thu T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đinh Thế T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-ST
Ngày: 23/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đình Sỹ và ông Phạm Hồng Chương.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/9/2020 tại hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/TLST - HS ngày 01/9/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST - HS, ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Thế T, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1988. Nơi sinh: Xã ĐN, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn PQ, xã BLN, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 8/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đinh Công T; sinh năm 1952 (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị N; sinh năm 1960; nghề nghiệp: Làm ruộng. Hiện trú tại: Thôn PQ, xã BLN, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ: La Thị T; sinh năm 1986; nghề nghiệp: Lao động tự do. Hiện trú tại: Xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Con: Đinh Thế T, sinh năm 2007; nghề nghiệp: Học sinh. Anh, chị em ruột có 04 người, bị cáo là con ba.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 23/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện NX, tỉnh Hà Tĩnh xác định tái phạm và xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự, ngày 15/4/2017 thì chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Ngày 22/02/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự, ngày 08/02/2007 thì chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích);

- Ngày 29/8/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngày 24/8/2014 thì chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích);

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giam từ ngày 17/7/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường và tự bào chữa.

* Người bị hại: Chị Đinh Thị Thu T; sinh năm: 1986; địa chỉ: Thôn HB, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Bùi Như H, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn PQ, xã BLN, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 07/6/2020, Đinh Thế T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 38D1-248.33 đi đến huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh chơi. Khi đi đến quán tạp hóa của chị Đinh Thị Thu T ở thôn HB, xã LTT, huyện ĐT, Đinh Thế T đi vào quán để mua thuốc lá. Khi vào, Đinh Thế T phát hiện một hộp cát tông đựng tiền và điện thoại để dưới đất sát tủ kính không có người trông coi, nên lấy trộm bưng ra ngoài, rồi điều khiển xe chạy về hướng cánh đồng thuộc thôn TV, xã LTT, huyện ĐT, dừng lại kiểm tra đếm được 4.000.000 đồng tiền mặt và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4, vỏ màu xám. Đinh Thế T lấy toàn bộ tài sản vừa trộm được bỏ vào túi quần đưa về nhà, còn chiếc thùng cát tông vứt lại bên đường. Sau khi lấy trộm được tài sản của chị Đinh Thị Thu T, Đinh Thế T đưa xe máy đến cầm cố cho ông Bùi Như H, trú tại tổ dân phố 3, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh lấy 5.500.000 đồng, rồi bắt xe ô tô vào Đắk Lắk chơi và bán chiếc điện thoại lấy trộm được tại một cửa hàng không xác định được địa chỉ ở huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Toàn bộ tiền mặt và tiền bán tài sản do trộm cắp được, Đinh Thế T đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 17/7/2020 Đinh Thế T bị Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐT bắt giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KLĐG-HĐĐGTS ngày 21/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ĐT, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4, trị giá 1.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 35/CT- VKSĐT ngày 31 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐT truy tố bị cáo Đinh Thế T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Thế T mức án từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 17/7/2020.

Về dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Đinh Thế Thành phải bồi thường cho chị Đinh Thị Thu T số tiền 5.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Như H không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đen, biển kiểm soát 38D1-248.33. Qúa trình điều tra xác định đây là chiếc xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị N (mẹ Đinh Thế T) cho Đinh Thế T mượn, việc Đinh Thế T sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, bà N không biết, nên đề nghị trả lại cho bà N.

- Chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung J4 bị cáo Đinh Thế T khai nhận đã bán cho cửa hàng điện thoại tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk nhưng không nhớ cụ thể địa chỉ nên không thu giữ được; còn thùng cát tông bị cáo đã vứt tại cánh đồng thuộc thôn TV, xã ĐT Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất. Người bị hại đề nghị bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000 đồng và trị giá chiếc điện thoại bị mất trộm 1.000.000, tổng số tiền bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường là 5.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đen, biển kiểm soát 38D1-248.33.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt một người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.

. Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, tang vật thu hồi và các tài liệu, chứng cứ có tài hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 11 giờ ngày 07/6/2020, tại thôn HB, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh, Đinh Thế T lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong quản lý tài sản, đã lén lút lấy trộm 4.000.000 đồng tiền mặt và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung J4, vỏ màu xám, trị giá 1.000.000 đồng của chị Đinh Thị Thu T. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang có một tiền án: Ngày 23/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện NX, tỉnh Hà Tĩnh xác định tái phạm và xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự, ngày 15/4/2017 thì chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích) nên lần phạm tội này bị cáo bị truy tố theo tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐT truy tố bị cáo Đinh Thế T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan, sai.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có một tình tiết giảm nhẹ hình phạt là “khai báo thành khẩn” nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Quyết định hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ gây ra thiệt hại về mặt vật chất của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, việc xét xử công khai và lên mức án tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như quan điểm của Kiểm sát viên là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

. Về xem xét trách nhiệm của người liên quan trong vụ án:

Trong vụ án này, ông Bùi Như H là người đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 38D1-24.833 do bị cáo Đinh Thế T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng ông H không biết, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Đinh Thế T phải bồi thường cho chị Đinh Thị Thu T số tiền 5.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Như H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Qúa trình điều tra xác định chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đen, biển kiểm soát 38D1-248.33 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị N (mẹ Đinh Thế T) cho Đinh Thế T mượn, việc Đinh Thế T sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, bà N không biết, nên cần trả lại cho bà N như quan điểm của Kiểm sát viên là hoàn toàn phù hợp.

- Chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam sung J4 bị cáo Đinh Thế T khai nhận đã bán cho cửa hàng điện thoại tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk nhưng không nhớ cụ thể địa chỉ nên không thu giữ được; còn thùng cát tông bị cáo đã vứt tại cánh đồng thuộc thôn TV, xã ĐT Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1, 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đinh Thế T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/72020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đinh Thế T phải bồi thường cho chị Đinh Thị Thu T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Đinh Thị Thu T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho chị Đinh Thị Thu T số tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền chưa thi hành án.

Trong thời hạn 5 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền gửi đơn yêu cầu thi hành án đến Chi cục thi hành án huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu thi hành án. Qúa thời hạn nói trên người phải thi hành án và người được thi hành án mất quyền yêu cầu thi hành án.

3. Về biện pháp tư pháp:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị N chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA Sirius, sơn màu đen, biển kiểm soát 38D1-248.33

4. Về án phí: Xử buộc bị cáo Đinh Thế T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ