vanban.org

Bản án 37/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 23/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Cáo Ophạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Buộc bị cáo Tẩn Cáo Ophải bồi thường cho bị hại anh Đỗ Trung P số tiền 8.343.200 đồng; anh Nguyễn Mạnh Tsố tiền 6.190.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tan Láo O - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Cáo Ophạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-ST
Ngày 23/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Sen

2. Phàng Thị Dở

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/ 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37 /2020/QĐXXST-HS ngày 11/9/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn Cáo O(tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 01 năm 1996 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn DT, xã T T huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Tẩn Sài Ngan, sinh năm 1977, Con bà: Phàn Sử Mẩy, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn DT, xã T T huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Gia đình bị caó có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Phùng San Mẩy, sinh năm 1998. Trú tại: Thôn DT, xã T T huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 01 con sinh năm 2017, hiện đang ở cùng mẹ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo Tẩn Cáo O là người có nhân thân xấu. Tại bản án hình sự số 29/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát đã xử phạt Tẩn Cáo O 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 29/3/2018, Tẩn Cáo Ochấp hành xong thời gian thử thách án treo.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Những người bị hại:

+Anh Đỗ Trung P- Sinh năm 1987

Địa chỉ: Km , xã Bản V , huyện Bát, tỉnh Lào Cai.(Vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Quang H- Sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 12, thị trấn bx, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.(Vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Mạnh T- Sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ 15, thị trấn B, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thuỷ - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 30/4/2020 đến ngày 09/6/2020, Tẩn Cáo Ođã thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 30/4/2020, Tẩn Cáo Ođang đi bộ ở khu vực thôn Km 0, xã Bản Vược, huyện Bát Xát thì nhìn thấy cửa hàng tạp hóa của anh Đỗ Trung Phúc, trú tại thôn Km , xã Bản V , huyện Bát Xát khóa cửa không có người trông coi, Tẩn Cáo Onảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tẩn Cáo Ođi ra phía sau cửa hàng rồi trèo lên mái tôn gác xép, Tẩn Cáo Odùng tay vặn 09 (chín) ốc vít ở mép ngoài hai tấm tôn và lấy đôi giầy của cửa hàng chèn vào tấm tôn, sau đó dùng tay phải kéo tấm tôn mép ngoài tạo khoảng trống 30 cm x 80 cm để chui vào bên trong gác xép. Tẩn Cáo Onhặt thanh sắt hình tam giác dài 30 cm ở trên gác xép rồi đi xuống cầu thang đến bàn thanh toán ở tầng 1, Tẩn Cáo Othấy có hai ngăn kéo, ngăn kéo phía trên bị khóa. Tẩn Cáo Omở ngăn kéo phía dưới chiếc bàn thấy có nhiều tiền Việt Nam mệnh giá nhỏ, Tẩn Cáo Olấy hết tiền để lên trên mặt bàn và dùng thanh sắt phá khóa ngăn kéo phía trên thấy có nhiều tờ tiền Việt Nam và tiền Trung Quốc, Tẩn Cáo Olấy tiền cho vào túi nilon màu trắng rồi đi theo đường cũ đi ra ngoài và vứt thanh sắt ở lề đường. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Tẩn Cáo Othuê xe taxi đi ra thành phố Lào Cai và lấy 200.000 đồng từ số tiền trộm cắp được trả cho người lái xe rồi đi đến phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai gặp một người phụ nữ không quen biết đổi 320 nhân dân tệ tiền Trung Quốc ra tiền Việt Nam được số tiền 960.000 đồng. Sau đó, Tẩn Cáo Ođi đến công viên Nhạc Sơn, thành phố Lào Cai đếm số tiền trộm cắp được còn lại là 8.060.000 đồng. Số tiền này, Tẩn Cáo Ođã tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày, anh Đỗ Trung Pđã có đơn trình báo vụ việc đến Công an xã Bản Vược, huyện Bát Xát.

Công văn số 1451/NHNo-KTNB ngày 28/8/2020 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Lào Cai II cung cấp tỷ giá nhân dân tệ ngày 29/4/2020 (ngày 30/4/2020, nghỉ lễ, không niêm yết tỷ giá): 3.260 VNĐ/01 CNY (320 CNY x 3.260 VNĐ = 1.043.200 đồng).

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt ngày 30/4/2020 là 8.343.200 đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 09/6/2020, Tẩn Cáo Ođiều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 818.40 đi từ ngã ba tỉnh lộ 156 thuộc Tổ 15, thị trấn B, huyện Bát Xát đến chợ thị trấn Bát Xát, huyện Bát Xát, Tẩn Cáo Odừng xe ở cổng chợ rồi đi bộ vào bên trong, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến cửa hàng điện thoại Đạt Mobile của anh Nguyễn Quang Hiệp,trú tại Tổ 12, thị trấn bx, huyện Bát Xát, Tẩn Cáo Onhìn qua khe cửa thấy có nhiều điện thoại di động để trong tủ kính nhưng không có người trông coi. Tẩn Cáo Ođi ra sau cửa hàng, trèo lên mái nhà rồi chui qua lỗ hổng vào trong nhà. Tẩn Cáo Othấy tủ kính đựng điện thoại bị khóa nên đã dùng tay kéo vỡ cửa kính rồi lấy 02 (hai) chiếc điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu P-serles, màu tím, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5A màu vàng) cho vào túi quần rồi mở cửa sau đi ra chỗ để xe mô tô và cất 02 chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào trong cốp xe. Sau đó, Tẩn Cáo Ođi đến cửa hàng điện thoại Hoàng Nam của anh Nguyễn Mạnh Thể, trú tại Tổ 15, thị trấn B để trộm cắp tài sản. Tẩn Cáo Otrèo lên hàng rào sắt và bám vào đường dây điều hòa lên sân thượng tầng 3 rồi chui qua ô thoáng xuống sân thượng vào nhà. Tẩn Cáo Othấy cửa sau tầng 3 không khóa nên đi cầu thang xuống tầng 1 và mở cửa tủ kính đựng điện thoại trộm cắp tổng cộng 18 chiếc điện thoại (gồm: 01 điện thoại Nokia Lumina 1530, màu trắng, 01 điện thoại Samsung A70, màu đen, 04 điện thoại Redmi, 04 điện thoại Realme, 01 điện thoại Mi 6A, màu đen, 02 điện thoại Oppo, 02 điện thoại Vivo, 02 điện thoại Xiaomi và 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng), 07 củ sạc điện thoại, 01 sạc dự phòng màu vàng, nhãn hiệu glolux, 08 cáp sạc điện thoại và 01 tai nghe điện thoại. Tẩn Cáo Ocho tất cả số tài sản trộm cắp được vào túi nilon rồi đi lên sân thượng và trèo qua đường cũ đi ra ngoài, khi đi đến bãi đất trống cạnh nhà anh Nguyễn Mạnh Tthì Tẩn Cáo Olàm rơi 03 chiếc điện thoại (01 điện thoại Xiaomi - Redmi note 8 màu xanh đen, 01 điện thoại Iphone 6 plus, màu vàng và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y12, màu xanh đen). Tẩn Cáo Ođi ra chỗ để xe mô tô cất số tài sản vừa trộm cắp được vào cốp xe rồi điều khiển xe mô tô đi ra thành phố Lào Cai để tiêu thụ. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Tẩn Cáo Obán 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 5i, màu đen cho một người phụ nữ không quen biết với giá 1.500.000 đồng tại khu vực đầu cầu Phố Mới, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai và mang 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi - Redmi note 8 màu xanh đen đến cửa hàng điện thoại của anh Trần Thế Thành, trú tại số nhà 132 đường Lý Công Uẩn, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai để sửa chữa. Số tiền bán điện thoại, Tẩn Cáo Ođã tiêu xài cá nhân hết còn lại 210.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Tẩn Cáo Obị triệu tập đến Công an huyện Bát Xát để làm việc, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của bị cáo Tẩn Cáo On:

+ 15 chiếc điện thoại di động (bao gồm: 01 điện thoại Nokia Lumina 1530, màu trắng, 01 điện thoại Samsung A70, màu đen, 03 điện thoại Redmi, 04 điện thoại Realme, 01 điện thoại Mi 6A, màu đen, 02 điện thoại Oppo, 01 điện thoại Vivo, 01 điện thoại P-serles, màu tím, 01 điện thoại Xiaomi 5A màu vàng);

+ 07 củ sạc điện thoại, 01 sạc dự phòng màu vàng, nhãn hiệu glolux, 08 cáp sạc điện thoại và 01 tai nghe điện thoại;

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 818.40;

+ Tiền Việt Nam: 210.000 đồng.

- Thu giữ của Nguyễn Mạnh Thể: 02 chiếc điện thoại (01 điện thoại Xiaomi - redmi note 8 màu xanh đen và 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng).

- Thu giữ của Trần Thế Thành: 01 chiếc điện thoại Xiaomi – redmi note 8 màu xanh đen.

Ngày 11/6/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 07 đối với tài sản bị chiếm đoạt của anh Nguyễn Mạnh Tvà Nguyễn Quang Hngày 09/6/2020.

Kết luận định giá tài sản số 05/KL.HDĐG ngày 15/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bát Xát kết luận:

+ 01 điện thoại Nokia Lumia 1530 màu trắng, máy đã qua sử dụng có giá trị: 2.500.000 đồng.

+ 01 điện thoại Samsung A70 màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.200.000 đồng.

+ 01 điện thoại Redmi 7A, màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 1.850.000 đồng.

+ 01 điện thoại Mi 6A màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 1.750.000 đồng.

+ 01 điện thoại Realme C2 màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.650.000 đồng.

+ 01 điện thoại Oppo A5S màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.650.000 đồng.

+ 01 điện thoại Realme 6i, màu xanh lá cây, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.850.000 đồng.

+ 01 điện thoại Realme 5i, màu xanh lá cây, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.450.000 đồng.

+ 01 điện thoại Redmi 8A, màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.100.000 đồng.

+ 01 điện thoại Redmi 3, màu xanh đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.050.000 đồng.

+ 01 điện thoại Vivo Y91 C màu xanh đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.750.000 đồng.

+ 01 điện thoại Realme 5i, màu xanh, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.450.000 đồng.

+ 01 điện thoại Realme 3, màu xanh máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.050.000 đồng.

+ 02 điện thoại Xiaomi – Redmi note 8 màu xanh đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: (3.850.000 x2 = 7.700.000 đồng).

+ 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị: 4.000.000 đồng.

+ 01 điện thoại Vivo Y12, màu xanh đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 2.950.000 đồng.

+ 01 điện thoại Redmi 5i, màu đen, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 3.450.000 đồng.

+ 07 củ sạc điện thoại, có giá trị: 560.000 đồng.

+ 01 sạc dự phòng có giá trị 220.000 đồng.

+ 08 dây cáp điện thoại có giá trị 560.000 đồng.

+ 01 tai nghe điện thoại có giá trị 110.000 đồng.

+ 01 điện thoại P – serles, màu tím, máy mới chưa qua sử dụng có giá trị: 700.000 đồng.

+ 01 điện thoại Xiaomi 5A, màu vàng, máy đã qua sử dụng có giá trị: 1.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị xâm hại ngày 09/6/2020 là 56.750.000 đồng (trong đó, giá trị tài sản của anh Nguyễn Mạnh Tlà 54.850.000 đồng, anh Nguyễn Quang Hlà 1.900.000 đồng).

Tổng giá trị tài sản bị cáo Tẩn Cáo Ochiếm đoạt trong các vụ trộm cắp là 65.093.200 đồng.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Tẩn Láo On về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Tẩn Cáo O 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Trả lại cho anh Nguyễn Mạnh Tsố tiền 210.000 đồng, bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh Tsố tiền 6.190.000 đồng, bồi thường cho anh Đỗ Trung Psố tiền 8.343.000 đồng.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Tẩn Láo On nêu quan điểm: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Tẩn Láo On về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, vì bị cáo Tẩn Láo On tuổi đời còn trẻ là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, khi được cơ quan điều tra Công an huyện mời đến làm việc bị cáo đã tự thú toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tẩn Láo On 02 năm tù.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Vì vậy hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo khai do muốn có tiền chi tiêu để phục vụ nhu cầu của bản thân nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu từ ngày 30/4/2020 đến 09/6/2020, bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị là 65.093.200 đồng của những người bị hại là anh Nguyễn Mạnh Thể, Nguyễn Quang Hvà Đỗ Trung Phúc. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Tẩn Láo On ra trước tòa về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án hình sự số 29/2016/HSST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát đã xử phạt bị cáo Tẩn Cáo O09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 29/3/2018, bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách án treo, bị cáo đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, mà vẫn tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị ở địa phương. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo với mức án thật nghiêm khắc trước pháp luật để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với đề nghị của người bào chữa xét xử bị cáo mức án 02 năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo On có nhân thân xấu về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, phòng ngừa tội phạm. Vì vậy mức hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tẩn Cáo Ođã 02 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” lần thứ nhất bị cáo đã trộm cắp với giá trị tài sản là 8.343.000 đồng, lần thứ hai bị cáo trộm cắp với tổng trị giá tài sản là 56.750.000 đồng. Vì vậy hai lần trộm cắp này đều cấu thành tội phạm độc lập nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa bị phát hiện khi được mời đến cơ quan công an thì bị cáo đã tự nhận hai lần trộm cắp tài sản, ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo , ăn năn, hối cải nên cần áp dụng điểm r, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và vấn đề có liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Quang Hđã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và đề nghị xử lý hình sự bị cáo Tẩn Cáo Otheo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Mạnh Tđã nhận lại một phần tài sản, bao gồm: 16 chiếc điện thoại di động, 07 củ sạc điện thoại, 01 sạc dự phòng, 08 cáp điện thoại và 01 tai nghe điện thoại. Còn đối với 01 điện thoại Vivo Y 12, màu xanh đen và 01 điện thoại Redmi 5i, màu đen có tổng giá trị 6.400.000 đồng, anh Nguyễn Mạnh Tyêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền trên và đề nghị xử lý hình sự bị cáo theo quy định của pháp luật.

Anh Đỗ Trung Pyêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.343.200 đồng và đề nghị xử lý hình sự bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông lái xe taxi và người phụ nữ đổi tiền Trung Quốc cho bị cáo vào ngày 30/4/2020. Do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của những người này nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với anh Trần Thế Thành là người sửa chữa chiếc điện thoại di động Xiaomi - Redmi note 8 màu xanh đen. Quá trình điều tra, anh Trần Thế Thành không biết tài sản do bị cáo trộm cắp và đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trên nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại Vivo Y12, màu xanh đen, bị cáo làm rơi trên đường khi đi ra khỏi cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Mạnh Thể, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đề cập.

Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 818.40 đã tạm giữ trong vụ án. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc xe mô tô trên mang tên Lò Vần Chòi, sinh năm 1997, trú tại thôn Tả Ngảo, xã Bản Qua, huyện Bát Xát (em rể của bị cáo). Anh Lò Vần Chòi không biết bị cáo mượn xe để dùng vào việc trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Chòi là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 18 chiếc điện thoại di động, 07 củ sạc điện thoại, 01 sạc dự phòng, 08 cáp điện thoại và 01 tai nghe điện thoại, quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Mạnh Tvà Nguyễn Quang Hlà đúng quy định của pháp luật.

Đối với thanh sắt dài khoảng 30 cm trong vụ trộm cắp tài sản ngày 30/4/2020, bị cáo đã vứt ở ven đường nhưng không xác định được địa điểm nên cơ quan điều tra không thu giữ được. nên không xem xét.

Đối với số tiền 210.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo, xét thấy số tiền trên là tiền do bị cáo bán điện thoại của anh Thể mà có nên cần trả lại số tiền cho anh Nguyễn Mạnh Thể.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Tẩn Cáo O là lao động tự do không có thu nhập, không có tài sản gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên; bị cáo đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.

Về án phí: Buộc bị cáo Tẩn Cáo Ophải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Cáo Ophạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tẩn Cáo O 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;

Buộc bị cáo Tẩn Cáo Ophải bồi thường cho bị hại anh Đỗ Trung P số tiền 8.343.200 đồng; anh Nguyễn Mạnh Tsố tiền 6.190.000 đồng.

Trả lại cho anh Nguyễn Mạnh Tsố tiền 210.000 đồng được niêm phong trong một bì thư do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát gửi vào Kho bạc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, trên mặt trước của bì có ghi “Vật chứng (tiền) thu giữ của Tẩn Cáo Otrong vụ án Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 09/6/2020 tại Tổ 15, thị trấn B, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải bồi thường, nếu bị cáo không thi hành án đối với khoản tiền hoàn trả cho đến khi thi hành xong khoản tiền hoàn trả, thì hàng tháng bị cáo Tẩn Láo On phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tẩn Cáo Ophải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 726.660 đồng (bẩy trăm hai mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt các bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Sen

Phàng Thị Dở

Nguyễn Thị Minh Đức Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lào Cai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lào Cai;

- VKSND Bát Xát;

- Công an huyện Bát Xát (2);

- Cq thi hành án hình sự Công an tỉnh Lào Cai;

- Sở tư pháp;

- Bị cáo; Bị hại; NBC (02)

- Thi hành án (3);Lưu HS, THS, VP.

Nguyễn Thị Minh Đức THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Sen

Phàng Thị Dở

Nguyễn Thị Minh Đức

Cỡ chữ