- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N, Nguyễn Văn T - phạm tội buôn lậu (điều 188 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ăn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Điều 356 điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HS-PT Ngày: 17 - 01 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: ng ê Thành Tôn.
ng Đinh h T m.
- Thư ký phiên tòa: ng Nguyễn T n Ngh a - Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn im H a - iểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 335/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh N Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2019/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nh n d n huy n H tỉnh Đồng Tháp.
- Các ị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thanh N sinh năm 1956 tại ampuchia. Nơi cư trú: p 2, xã P huy n N tỉnh Đồng Tháp; nghề nghi p: Mua bán; trình độ văn h a h c v n : Không biết chữ; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn H chết và bà Nguyễn Thị T1 (chết ; c vợ và 05 con; tiền án, tiền sự không c ; bị b t tạm giam: Không; c m t.
2. Nguyễn Văn T sinh năm 1984 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: p 2, xã P, huy n N tỉnh Đồng Tháp; nghề nghi p: Làm thuê; trình độ văn h a h c v n : 05/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Thanh N và bà ê Thị T2; c vợ và 02 con; tiền án, tiền sự không c ; nhân thân: Ngày 09/02/2012, bị Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm xử phạt 05 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới”, được đ c xá ngày 30/8/2013; bị b t tạm giam: hông; c m t.
-
i o ch a cho các ị cáo: Ông Đ Thành S và bà Hồ Thị uân H1 là uật sư Văn phòng luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp; c m t.
Ngoài ra trong vụ án đương sự không c kháng cáo Vi n kiểm sát không c kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được t m t t như sau:
hoảng 02 giờ 10 phút ngày 23/4/2019 Tổ kiểm soát phối hợp gồm hi cục Hải quan cửa khẩu Thường Phước hi cục Hải quan Sở Thượng và Trạm kiểm soát Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Thường Phước tuần tra kiểm soát trên Sông Tiền tại khu vực cửa khẩu Thường Phước cách đường biên giới khoảng 500m và cách bờ sông khoảng 200m trong phạm vi hoạt động của hi cục Hải quan cửa khẩu Thường Phước thuộc khu vực p 1 xã P huy n N tỉnh Đồng Tháp thì phát hi n một chiếc ghe g ký hi u 3x tr ng tải khoảng 70 t n do Nguyễn Văn T điều khiển đi từ hướng ampuchia về Vi t Nam qua cửa khẩu Thường Phước không trình báo c biểu hi n nghi v n vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới nên Tổ kiểm soát yêu cầu dừng phương ti n kiểm tra. úc này trên ghe chở lúa hạt đổ xá trong khoang và một số g để trên cabin và mui ghe do bị cáo T vận chuyển từ ampuchia về Vi t Nam qua cửa khẩu Thường Phước không làm thủ tục nhập khẩu, không c gi y tờ chứng minh t nh hợp pháp của số lúa g n i trên.
Tổ kiểm soát tiến hành lập hồ sơ vi phạm hành ch nh tạm giữ phương ti n và tang vật. Qua xác minh xét th y c d u hi u tội phạm nên chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố đến ơ quan điều tra ông an huy n N để xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ gồm:
- úa hạt chủng loại 504 số lượng 47.800kg chưa phơi khô.
- G 4 015m3 và 110kg trong đ gồm 17 t m g xẻ phách hình khối chữ nhật loại g nh m V-VI: 3,145m3; 07 đoạn g hình trụ tròn loại g nh m V-VI: 0,706m3; 01 t m g G đỏ hình khối chữ nhật: 0 07m3; 01 m t bàn hình tròn g Giáng hương: 0,094m3; 01 gốc c y loại g Giáng hương: 110kg.
- 01 phương ti n ghe g ký hi u 3x chiều dài 18 5m chiều rộng 4 5m chiều cao 2 7m phương ti n không c gi y đăng ký không biển kiểm soát đã qua sử dụng.
- 01 máy nổ ký hi u D6 BRMR 03033 loại 6 máy không r nước sản xu t đã qua sử dụng.
Tại biên bản xác định trị giá hàng h a tang vật vi phạm ngày 26/4/2019 của hi cục Hải quan cửa khẩu Thường Phước xác định trị giá 47.800kg lúa hạt x 4.500 đồng = 215.100.000 đồng.
Ngày 22/5/2019 ơ quan Cảnh sát điều tra ông an huy n N đã ra quyết định xử lý đồ vật tài li u bán đ u giá đối với 47.800kg lúa hạt chủng loại 504 chưa phơi khô. Do là loại hàng h a mau hỏng nên lực lượng Hải quan đã tiến hành phơi khô và bàn giao cho ơ quan điều tra với khối lượng còn lại 46.500kg bán đ u giá theo quy định. Số tiền bán đ u giá 203.940.000 đồng kh u trừ các khoản chi ph còn lại 196.198.000 đồng được gửi vào tài khoản tạm giữ số 3713.0.9046316.00000 của ông an huy n N mở tại kho bạc Nhà nước N.
Ngày 24/5/2019 Cơ quan điều tra phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch huy n N hi cục Hải quan cửa khẩu Thường Phước hi cục iểm l m tỉnh Đồng Tháp Vi n kiểm sát nh n d n huy n N tiến hành kiểm tra s c mộc g bị tạm giữ và xác định giá trị của từng loại g kết quả kiểm tra xác định như sau:
- 17 t m g xẻ phách hình khối chữ nhật loại g nh m V-VI: 3,145m3, c s c mộc giống nhau thuộc loại g thông thường g tạp . Trị giá 12 tri u/m3.
- 07 đoạn g hình trụ tròn loại g nh m V-VI: 0,706m3 c s c mộc giống nhau, tên Campuchia là Cà Sết thuộc loại g thông thường. Trong đ c 04 đoạn à Sết vàng và 03 đoạn à Sết đen. Trị giá m i đoạn g là 500.000 đồng.
- 01 t m g g đỏ hình khối chữ nhật: 0 706m3. Trị giá 7.000.000 đồng.
- 01 m t bàn hình tròn g G mật: 0 094m3. Trị giá 10.000.000 đồng.
- 01 gốc c y loại g Giáng hương: 110kg. Trị giá 6.000.000 đồng.
Tại ết luận định giá tài sản số: 06/ HĐĐGTS-TTHS ngày 27/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n N kết luận:
1. G xẻ phách hình khối chữ nhật loại g nh m V-VI g tạp 3 145m3 x 12.000.000 đồng = 37.740.000 đồng.
2. G hình trụ tròn loại g nh m V-VI tên ampuchia là à sết g thông thường trong đ c 04 đoạn à Sết vàng và 03 đoạn à Sết đen 07 đoạn x 500.000 đồng = 3.500.000 đồng.
3. G G đỏ hình khối chữ nhật 0 07m3 01 t m x 7.000.000 đồng = 7.000.000 đồng.
4. G G mật hình tròn 0 094m3 01 t m x 10.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.
5. Gốc c y g Giáng hương tr ng lượng 110kg 01 gốc x 6.000.000 đồng = 6.000.000 đồng.
6. úa hạt chủng loại 504 47.800kg x 4.500 đồng = 215.100.000 đồng.
Tổng cộng: 279.340.000 đồng.
Về vật chứng: Tịch thu nộp ng n sách Nhà nước
- Số tiền bán đ u giá 46.500kg lúa hạt, kh u trừ chi ph bán đ u giá còn lại 196.198.000 đồng, được gửi vào tài khoản tạm giữ số 3713.0.9046316.00000 của ông an huy n N tại kho bạc Nhà nước N.
- Số g 4 015m3 và 110kg trong đ gồm: 17 t m g xẻ phách hình khối chữ nhật loại g nh m V-VI: 3,145m3; 07 đoạn g hình trụ tròn loại g nh m V-VI: 0,706m3; 01 t m g G đỏ hình khối chữ nhật: 0 07m3; 01 m t bàn hình tròn g Giáng hương: 0,094m3; 01 gốc c y loại g Giáng hương: 110kg.
- 01 phương ti n ghe g ký hi u 3x chiều dài 18 5m chiều rộng 4 5m chiều cao 2 7m phương ti n không c gi y đăng ký không biển kiểm soát đã qua sử dụng.
- 01 máy nổ ký hi u D6 BRMR 03033 loại 6 máy không r nước sản xu t đã qua sử dụng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2019/HS-ST ngày 22/10/2019, Tòa án nhân dân huy n N tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
ăn cứ vào khoản 1 Điều 188 điểm i s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Buôn lậu”. ử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 09 (chín) tháng tù thời hạn ch p hành hình phạt t nh từ ngày bị cáo đi ch p hành án.
ăn cứ vào khoản 1 Điều 189 điểm i s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới”. ử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 sáu tháng tù thời hạn ch p hành hình phạt t nh từ ngày bị cáo đi ch p hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, về án ph và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 01/11/2019 bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo xin được hưởng án treo và cung c p bản sao Hu n chương kháng chiến của ông Nguyễn Văn T3; bản sao Hu n chương kháng chiến của bà Nguyễn Thị T4; bản photo quyết định số 178/QĐ-PV ngày 27/8/1982 của Bộ hỉ huy qu n sự tỉnh n Giang đối với Nguyễn Thanh N, đã hoàn thành nhi m vụ tại ng ; bản photo Quyết định số 99/QĐ-BT ngày 26/03/2010 của Bộ Tư l nh Qu n khu 9 cho ông Nguyễn Thanh N; bản photo kết quả - Quang ngày 29/10/2019 b nh nh n Nguyễn Thanh N; bản photo gi y ra vi n ngày 25/9/2019 b nh nh n ê Thị T2.
Ngày 05/11/2019 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo và c cung c p bản sao Hu n chương kháng chiến của ông Nguyễn Văn T3; bản sao Hu n chương kháng chiến của bà Nguyễn Thị T4; bản photo quyết định số 178/QĐ-PV ngày 27/8/1982 của Bộ hỉ huy qu n sự tỉnh n Giang đối với Nguyễn Thanh N đã hoàn thành nhi m vụ tại ng ; bản photo Quyết định số 99/QĐ-BT ngày 26/03/2010 của Bộ Tư l nh Qu n khu 9 cho ông Nguyễn Thanh N; bản photo kết quả - Quang ngày 29/10/2019 b nh nh n Nguyễn Thanh N và bản photo gi y ra vi n ngày 25/9/2019 b nh nh n ê Thị T2; đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình kh khăn là lao động ch nh của bị cáo T và biên lai thu tiền số 004801 ngày 02/12/2019 của hi cục Thi hành án d n sự huy n N, ghi nhận Nguyễn Văn T c nộp 200.000 đồng tiền án ph .
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thanh N không rút kháng cáo bị cáo N thừa nhận hành vi vi phạm và đồng ý với tội danh mà Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Do bị cáo c nhiều tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự nhưng Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù là n ng nên bị cáo N kháng cáo yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, vì hi n nay bị cáo đã cao tuổi và đang b nh thoái h a đốt sống lưng; vợ bị cáo là ê Thị T2 bị b nh di chứng nhồi máu não đái tháo đường dãn t nh mạch chi dưới đang cần bị cáo chăm s c.
Bị cáo Nguyễn Văn T không rút kháng cáo bị cáo T thừa nhận hành vi vi phạm và đồng ý với tội danh mà Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Bị cáo T nhận tội nhưng do Tòa án c p sơ thẩm xử phạt bị cáo T 06 tháng tù là n ng vì bị cáo T chỉ muốn giúp đ cha bị cáo là bị cáo Nguyễn Thanh N chở lúa và g trên ghe từ ampuchia về Vi t Nam. Do vậy bị cáo T kháng cáo yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo bởi vợ bị cáo không c nghề nghi p và bị cáo phải nuôi hai con nhỏ hoàn cảnh gia đình của bị cáo kh khăn nhưng bị cáo cố g ng nộp án ph hình sự sơ thẩm mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm về vi c giải quyết vụ án: Tòa án c p sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 của Bộ luật hình sự và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tôi “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự là c căn cứ đúng người đúng tội và đúng quy định của pháp luật. ét mức án 09 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo N và mức án 06 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo T là phù hợp với t nh ch t mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo. Bị cáo N kháng cáo xin hưởng án treo là c căn cứ bởi l sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo N c cung c p các tài li u gi y tờ chứng minh bị cáo N và vợ bị cáo N là bà ê Thị T2 đang bị b nh bị cáo N và bị cáo T là cha con nên cần thực hi n ch nh sách nh n đạo, bị cáo N đủ điều ki n được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo, tuy nhiên Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự cho bị cáo, năm 2012 bị cáo T bị xử phạt 05 năm tù về tội Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới 2013 được đ c xá nhưng bị cáo không ăn năn, hối cải lại tiếp tục phạm tội Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới nên không c căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo. Căn cứ vào Điều 356, 357 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh N, giữ nguyên hình phạt 09 tháng tù nhưng cho bị cáo N được hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng và không ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm số: 23/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân huy n N tỉnh Đồng Tháp.
ng Đ Thành S là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Văn T trình bày lời bào chữa: Thống nh t với bản án sơ thẩm về tội danh đối với hai bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Văn T. Về hình phạt Tòa án c p sơ thẩm xử phạt tù hai bị cáo là chưa phù hợp. Thống nh t với đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho bị cáo N được hưởng án treo vì bị cáo N c các tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự như Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử hi n tại vợ bị cáo đang bị b nh tài sản và phương ti n phạm tội bị tịch thu sung qu Nhà nước hoàn cảnh kinh tế gia đình kh khăn sau khi xét xử sơ thẩm đến nay bị cáo không vi phạm pháp luật mới bị cáo c nơi cư trú r ràng; về số lúa tịch thu c một phần của bị cáo N canh tác c được đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại số lúa này cho bị cáo N. hông đồng thuận quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T bởi l bị cáo T đủ điều ki n được hưởng án treo bị cáo tự nguy n nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm bị cáo là lao động ch nh phải nuôi vợ và 02 con nhỏ sau khi xét xử sơ thẩm đến nay bị cáo không phạm tội mới nên đề nghị Tòa án c p phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của bị cáo T giữ nguyên mức phạt tù nhưng cho bị cáo T được hưởng án treo.
Bà Hồ Thị u n H1 là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Văn T trình bày lời bào chữa: Thống nh t với lời bào chữa của ông Đ Thành S. Về các tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự cho các bị cáo N và T đã được Tòa án c p sơ thẩm xem xét đầy đủ và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của bị cáo N cho bị cáo N được hưởng án treo. Bị cáo T chỉ giúp cha là bị cáo N vận chuyển lúa và g bị cáo T đã được x a án t ch đủ điều ki n được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của bị cáo T cho bị cáo T được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thanh N thống nh t với lời trình bày của người bào chữa mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Về số lúa mà Tòa án c p sơ thẩm tuyên tịch thu sung qu Nhà nước thực tế c một phần của bị cáo N canh tác c được nhưng bị cáo thống nh t với quyết định của bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không phải xem xét nội dung này.
Bị cáo Nguyễn Văn T thống nh t với lời trình bày của người bào chữa mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh N Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. ời nhận tội của các bị cáo N, T phù hợp với lời khai của các bị cáo tại ơ quan điều tra tại phiên tòa sơ thẩm và các tài li u chứng cứ c trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ căn cứ khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân huy n N tỉnh Đồng Tháp tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là c căn cứ đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm đến trật tự quản lý kinh tế cụ thể là vi c xu t nhập khẩu hàng h a được pháp luật bảo v ảnh hưởng đến hàng h a trong nước. Bị cáo là người thành niên đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự theo quy định, bị cáo nhận thức được mua lúa g m ngh tổng trị giá 279.340.000 đồng từ ampuchia qua cửa khẩu vào Vi t Nam không làm thủ tục trình báo Hải quan cửa khẩu là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lợi nhuận mà bị cáo cố ý thực hi n tội phạm thể hi n vi c bị cáo xem thường pháp luật. Do đ phải c mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã g y ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công d n tốt và c tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
hi lượng hình phạt Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự được quy định tại điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo N là phù hợp. ét mức án 09 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm xử phạt bị cáo N là phù hợp với t nh ch t mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo N kháng cáo xin được hưởng án treo. ét th y bị cáo N c nh n th n tốt c 03 tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm i s x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm tr ng; người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; người phạm tội là người c công với cách mạng bị cáo N tham gia kháng chiến chống M cứu nước theo Quyết định số 99/QĐ-BT ngày 26/03/2010 của Bộ Tư l nh Qu n khu 9 ; bị cáo còn 01 tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết bị cáo c m là bà Nguyễn Thị T4 và anh trai là ông Nguyễn Văn T3 là người tham gia kháng chiến chống M được Nhà nước khen thưởng; bị cáo c nơi cư trú r ràng; bị cáo là người cao tuổi 64 tuổi kết quả - Quang chẫn đoán bị cáo bị b nh lý viêm nhiễm phổi chưa loại trừ lao; vợ bị cáo là bà ê Thị T2 hi n c ng bị b nh di chứng nhồi máu não b nh tăng huyết áp vô căn b nh đái tháo đường; bị cáo c khả năng tự cải tạo và vi c cho bị cáo hưởng án treo không g y nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng x u đến an ninh trật tự an toàn xã hội nên không cần phải b t bị cáo ch p hành hình phạt tù. Từ những căn cứ trên xét th y bị cáo N đủ điều được hưởng án treo theo quy định của pháp luật nên ch p nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh N.
Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội x m phạm đến trật tự quản lý kinh tế cụ thể là vi c xu t nhập khẩu hàng h a được pháp luật bảo v ảnh hưởng đến hàng h a trong nước. Bị cáo là người thành niên đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự theo quy định và nhận thức được vận chuyển trái phép lúa g m ngh tổng trị giá 279.340.000 đồng từ ampuchia qua cửa khẩu vào Vi t Nam không làm thủ tục trình báo Hải quan cửa khẩu là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố ý thực hi n tội phạm thể hi n vi c bị cáo xem thường pháp luật. Do đ phải c mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã g y ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công d n tốt và c tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
hi lượng hình phạt Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T là phù hợp. Đối với tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo là chưa phù hợp bởi l đ y không phải là lần đầu bị cáo T phạm tội v n đề này Tòa án sơ thẩm cần rút kinh nghi m. ét mức án 06 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm xử phạt bị cáo T là phù hợp với t nh ch t mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo.
Bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo, với lý do gia đình c hoàn cảnh kh khăn bị cáo là lao động ch nh trong gia đình và phải đi làm thuê để lo kinh tế nuôi vợ và 02 con, nhưng bị cáo chỉ trình bày lý do của vi c kháng cáo và yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm xem xét mà không cung c p chứng cứ chứng minh trong khi đ đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình kh khăn của bị cáo T chỉ được UBND xã P xác nhận nội dung trong đơn và chữ ký của Trưởng p là đúng. ét th y năm 2012 bị cáo T đã bị xử phạt 05 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới” theo bản án hình sự phúc thẩm số 20/2012/HSPT ngày 09/02/2012 của Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp được đ c xá ngày 30/08/2013, nhưng bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới”; về tình tiết bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng ngày 02/12/2019 theo biên lai thu tiền số 004801 tại hi cục Thi hành án d n sự huy n N để nộp án ph hình sự sơ thẩm tuy nhiên trách nhi m chịu án ph hình sự sơ thẩm do bị cáo chịu theo quy định của pháp luật; vợ bị cáo T sinh năm 1983 vẫn trong độ tuổi lao động c thể lao động để nuôi hai con của bị cáo; bị cáo T không sinh sống cùng cha m ruột là bị cáo N và bà T2 nên tình tiết bị cáo N và bà T2 bị b nh không được xem xét; gia đình không c đ t ở và đ t canh tác chủ yếu sinh sống bằng nghề làm thuê không thuộc trường hợp giảm nh trách nhi m hình sự được pháp luật quy định nên các tình tiết này không được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đối với tội “Buôn lậu” và “Vận chuyển hàng h a trái phép qua biên giới”, pháp luật hình sự c quy định người phạm tội còn c thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên Tòa án c p sơ thẩm không nhận định áp dụng hay không áp dụng hình phạt bổ sung là thiếu s t.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nh t với quan điểm đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp, ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh N, không ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm. Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo N giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo T.
[6 Đối với trình bày lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh N và bị cáo Nguyễn văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét th y c căn cứ một phần như đã nhận định trên nên ch p nhận một phần đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo kháng nghị c hi u lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
háng cáo của bị cáo N được ch p nhận nên bị cáo không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo của bị cáo T không được ch p nhận nên bị cáo phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
Vì các l trên
QUYẾT ĐỊNH:
ăn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Điều 356 điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh N.
hông ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T.
Sửa bản án sơ thẩm.
ăn cứ vào khoản 1 Điều 188; điểm i s, x khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Buôn lậu”.
ử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 09 (ch n) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một năm 06 sáu tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/01/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh N về Ủy ban nh n d n xã P huy n N, tỉnh Đồng Tháp giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy định tại Điều 92 của uật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần trở lên thì Tòa án c thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
ăn cứ vào khoản 1 Điều 189; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng h a qua biên giới”.
ử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 sáu tháng tù thời hạn ch p hành hình phạt t nh từ ngày bị cáo đi ch p hành án.
Về án ph : Bị cáo Nguyễn Thanh N không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo kháng nghị c hi u lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - T ND tối cao Vụ GĐ-KT 1); - Ban Nội ch nh Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - V SND Tỉnh; - ơ quan TH HS ông an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghi p vụ ông an Tỉnh; - Phòng GĐ TNV-THA; - T ND - V SND huy n N; - TH DS huy n N; - ơ quan SĐT ông an H. N; - ác bị cáo; - ưu: VT HS Ngh a). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Thị Thúy Hằng |