vanban.org

Bản án 37/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 23/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Bùi Thanh L, giữ nguyên phần Quyết đ nh về hình phạt của Bản án hình sự s thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với b cáo Bùi Thanh L;

Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 07 (bảy) năm tù về Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 06 (sáu) tháng tù về Tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Bùi Thanh L, giữ nguyên phần Quyết đ nh về hình phạt của Bản án hình sự s thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với b cáo Bùi Thanh L;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HS-PT
Ngày: 23/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trương Công Thi

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 32/2020/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2020 đối với các cáo: Bùi Thanh L về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, b cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của các cáo và hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thanh L, sinh ngày 27/01/1984, tại Đắk Lắk; n i ĐKHKTT: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh L và à Nguyễn Th H; b cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

B cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Nguyễn Văn T (T), sinh năm 1980, tại Đắk Lắk; n i ĐKHKTT: thành phố B, tỉnh ĐắkLắk; nghề nghiệp: Buôn án; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và à Nguyễn Th Kim H; có vợ là Nguyễn Th Mỹ V và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự s thẩm số 131 ngày 12/6/2007, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường bộ. Đã thi hành xong Bản án và được xóa án tích.

B cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: ông Vũ Đình N, Luật sư Văn phòng Luật sư H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Đ a chỉ: tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Ch Phan Th P L, sinh năm 1982. Trú tại: tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/4/2017, Vũ Ngọc P đã đến nhà anh Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1980, trú tại: Tổ 9, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai) để thuê xe ô tô Toyota Innova, biển kiểm soát 81A - 089.84 của anh H. Khi thuê xe, anh Nguyễn Mạnh H và Vũ Ngọc P đã làm Hợp đồng thuê xe ô tô thời gian 10 ngày, với giá tiền 700.000 đồng/01 ngày, P đã đặt cọc cho anh H 7.000.000 đồng và để lại 01 CMND số 240467255, 01 Giấy phép lái xe số AU 686289 đều mang tên Vũ Ngọc P. Sau đó, Vũ Ngọc P đã mang xe ô tô trên vào thành phố Hồ Chí Minh để đi lại; tuy nhiên, do cần tiền tiêu xài nên Vũ Ngọc P đã liên hệ với các đối tượng Đ, T (hiện chưa xác đ nh được nhân thân, lai l ch) để thuê làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008965 và Giấy chứng minh nhân dân số 175564445, đều mang tên Nguyễn Mạnh H (sinh ngày 28/12/1980, nguyên quán: Bình Đ nh, n i ĐKHKTT:165/7 H Vư ng, H, P, Gia Lai). Sau khi làm giả các giấy tờ, Vũ Ngọc P đã điện thoại liên hệ với Nguyễn Trung T, nhờ T giả làm chủ sở hữu xe ô tô trên để mang đi thế chấp cho người khác lấy tiền, T đã đồng ý. Vũ Ngọc P đã điện thoại liên hệ với Nguyễn Văn T để nhờ T vào thành phố Hồ Chí Minh lái xe ô tô trên về giao cho Nguyễn Trung T mang đi thế chấp. Nguyễn Văn T đã vào thành phố Hồ Chí Minh để lái xe ô tô trên về thành phố B, cùng đi về trên xe còn có đối tượng Trần Hữu Trọng (Bi). Khi T mang xe ô tô về đến thành phố B gặp T thì T nói đang ận nên không mang xe ô tô trên đi thế chấp được, T đã nhờ Bùi Thanh L đứng tên đóng giả làm chủ sở hữu cùng T mang xe ô tô đi thế chấp, T đã nhận giấy tờ xe ô tô giả cùng CMND giả (chưa có ảnh) để giao cho Nguyễn Văn T và Bùi Thanh L. Sau khi được T nhờ đứng tên chủ sở hữu xe ô tô và đưa giấy tờ giả thì Bùi Thanh L và Nguyễn Văn T đã dán ảnh của L lên CMND giả và dùng đồng xu đóng lên ảnh tạo dấu nổi, rồi T lái xe ô tô trên chở L mang xe đến th trấn C, Đ C nhờ Lê Quang T dẫn đi thế chấp cho ch Phan Th P L (trú tại: TDP 6, th trấn C, Đ C, Gia Lai). Tại đây, L giới thiệu là chủ sở hữu xe ô tô rồi đưa các giấy tờ giả cho ch L. Sau khi kiểm tra giấy tờ, do không phát hiện được các giấy tờ là giả nên ch L đã đồng ý cho L thế chấp xe ô tô với số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Sau khi nhận được tiền, Bùi T L đã đưa toàn ộ số tiền cho Nguyễn Văn T, T đã đưa cho L 4.000.000 đồng, đưa Trần Hữu Trọng (Bi) 2.000.000 đồng, T giữ 2.000.000 đồng để đổ xăng, ăn uống trên đường đi, số tiền còn lại T chuyển khoản cho Vũ Ngọc P.

C quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám đ nh đối với 01 CMND số 175564445, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô iển kiểm soát 81A-089.84 số 008965 mang tên Nguyễn Mạnh H do ch Phan Th P L giao nộp, tại Bản kết luận giám đ nh số 225/KLGĐ ngày 10/7/2017 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: 01 Chứng minh nhân dân, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô iển kiểm soát 81A-089.84 đều mang tên Nguyễn Mạnh H là giả.

Với các nội dung trên,

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:

Tuyên ố cáo Bùi Thanh L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. B cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, uộc b cáo phải chấp hành chung hình phạt của cả hai tội là 07 ( ảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo chấp hành án.

Bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí s thẩm, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh.

Sau khi xét xử s thẩm, trong thời hạn pháp luật quy đ nh, các cáo Bùi Thanh L, Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; b hại ch Phan Th P L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các cáo và hại trình ày lý do kháng cáo cụ thể như sau:

- B cáo Bùi Thanh L cho rằng b cáo chỉ nhận số tiền 194.000.000 đồng của ch Phan Th P L vì ch L đã trừ lại 6.000.000 đồng tiền lãi. Trước đây không nhớ rõ về số tiền lãi nên cáo đã khai nhận số tiền 200.000.000 đồng là không đúng, Tòa án đã xử phạt b cáo 07 năm tù là quá nặng.

- B cáo Nguyễn Văn T cho rằng b cáo là người lái xe thuê, thực hiện theo các yêu cầu của P, b cáo chỉ được trả 2.000.000 đồng tiền lái thuê, tư ng ứng với ngày công th trường, trước đó cáo không hề hay biết việc các cáo khác àn ạc thuê xe để đi cầm cố nhằm chiếm đoạt cũng như việc làm giấy tờ giả đối với chiếc xe ô tô, hiện nay hoàn cảnh gia đình quá khó khăn. Tòa án cấp s thẩm đã tuyên phạt 07 năm tù là quá nặng.

- B hại ch Phan Th P L cho rằng, trước đây ch chỉ đưa 194.000.000 đồng cho L, do đã trừ trước 6.000.000 đồng tiền lãi, thực tế Ch chỉ đưa cho cáo L 194.000.000 đồng. Đối với b cáo Nguyễn Văn T chỉ là chạy xe thuê, chỉ nhận 2.000.000 đồng tiền công nhưng Tòa án đã xử 07 năm tù là quá nặng, nên đề ngh giảm hình phạt cho b cáo T, ch L có nộp bổ sung giấy nhận tiền 50.000.000 đồng của T và P giao để khắc phục hậu quả.

Luật sư ào chữa cho b cáo Nguyễn Văn T đề ngh Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu quan điểm: Về tố tụng, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiên và chấp hành đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự; Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề ngh không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Bùi Thanh L, giữ nguyên mức hình phạt đối với b cáo Bùi Thanh L, chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn T và hại ch Phan Th P L, sửa Bản án s thẩm, giảm hình phạt cho b cáo Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào hồ s vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Xem xét kháng cáo của các cáo và hại, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các cáo khai nhận hành vi phạm tội như Bản án s thẩm đã xác đ nh. Lời khai nhận tội của các cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ s vụ án. Có đủ c sở kết luận: Vào ngày 18/4/2017, Vũ Ngọc P đã thuê xe ô tô iển kiểm soát 81A-089.84 của anh Nguyễn Mạnh H đem vào thành phố Hồ Chí Minh, sau đó, do thiếu tiền tiêu xài, P đã liên lạc nhờ một số đối tượng Đ, T (hiện chưa xác đ nh được nhân thân, lai l ch) làm giả giấy Chứng nhận đăng ký xe, Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh H rồi giao cho Nguyễn Trung T mang xe đi thế chấp. T đã nhờ Bùi Thanh L đứng tên đóng giả làm chủ sở hữu cùng T mang xe ô tô đi thế chấp, T đã nhận giấy tờ xe ô tô giả cùng CMND giả (chưa có ảnh) để giao cho Nguyễn Văn T và Bùi Thanh L. Sau khi được T nhờ đứng tên chủ sở hữu xe ô tô và đưa giấy tờ giả thì Bùi Thanh L đã dán ảnh của L lên chứng minh nhân dân giả, sau đó cùng với T mang xe thế chấp cho ch Phan Th P L để chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng. Với hành vi và hậu quả như trên, cáo Bùi Thanh L b Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, b cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi phạm tội của Vũ Ngọc P và Nguyễn Trung T đã xét xử theo Bản án hình sự s thẩm số 35/2019/HSST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

. Xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Bùi Thanh L, thấy:

Trong vụ án này, Vũ Ngọc P có vai trò chủ mưu, các cáo Nguyễn Trung T, Bùi Thanh L và Nguyễn Văn T là người thực hành, giúp sức (Vũ Ngọc P, Nguyễn Trung T đã xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật). B cáo Bùi Thanh L biết rõ và đồng tình với hành vi, thủ đoạn lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của Vũ Ngọc P, tiếp nhận đề ngh của Nguyễn Trung T, đóng giả là chủ xe ô tô đồng thời có hành vi dán ảnh của mình lên Giấy chứng minh nhân dân giả, dùng đồng xu để đóng, tạo dấu nổi trên Giấy chứng minh nhân dân giả rồi mang xe ô tô đi cầm cố cho ch L để chiếm đoạt tiền. Như vậy, b cáo L thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành, giúp sức tích cực cho Vũ Ngọc P và Nguyễn Trung T. Sau khi xem xét vai trò của b cáo trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt b cáo Bùi Thanh L 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999, mức án trên là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ xét giảm án, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Bùi Thanh L và hại Phan Th P L có lời khai nại về việc giao nhận giữa ch L với b cáo L số tiền cầm cố và chiếm đoạt chỉ có 194.000.000 đồng, do đã trừ lại tiền lãi 6.000.000 đồng là không có căn cứ, không phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án, cũng như lời khai của b cáo, hại đã khai trước đây và trái với Bản án đã có hiệu lực pháp luật, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Văn T và của b hại ch Phan Th P L cho b cáo Nguyễn Văn T, thấy:

Xét vai trò của b cáo trong vụ án, tuy ban đầu b cáo Nguyễn Văn T không iết hành vi thủ đoạn của P và các đồng phạm khác, nhưng sau khi nhận lời điều khiển xe thì cáo đã iết rõ xe ô tô biển kiểm soát 81A-089.84 do Vũ Ngọc P thuê của người khác, không phải là chủ sở hữu xe, quá trình T lái xe đã biết rõ các giấy tờ xe, Chứng minh nhân dân do P làm giả nhưng vẫn giúp sức cho P và các đồng phạm khác thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, b cáo T là đồng phạm với vai trò giúp sức trong vụ án; tuy nhiên, xét thấy b cáo Nguyễn Văn T chỉ là người do Vũ Ngọc P thuê lái xe, trả tiền công 2 triệu đồng, không hưởng lợi gì trong vụ án, tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức, lệ thuộc các cáo khác, vai trò đồng phạm của b cáo trong vụ án không đáng kể so với b cáo L và các cáo khác, do đó việc Tòa án cấp s thẩm xử phạt b cáo cùng mức án 07 năm tù như cáo L là có phần nghiêm khắc, không đánh giá đúng mức độ tham gia của b cáo T, phân hóa vai trò đồng phạm trong vụ án. Trong quá trình điều tra, b cáo khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi xét xử s thẩm mặc dù không có trách nhiệm bồi thường nhưng cáo đã nộp bổ sung một số tiền lớn để khắc phục hậu quả đáng kể cho người b hại; b cáo được b hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, vì vậy cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm b, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với b cáo. Do b cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề, giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

. Đối với các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí s thẩm không có kháng cáo kháng ngh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của b cáo Bùi Thanh L không được chấp nhận nên cáo phải ch u theo quy đ nh của pháp luật; kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên b cáo không phải ch u án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a; điểm b Khoản 1, Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Bùi Thanh L, giữ nguyên phần Quyết đ nh về hình phạt của Bản án hình sự s thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với b cáo Bùi Thanh L;

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 07 (bảy) năm tù về Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Bùi Thanh L 06 (sáu) tháng tù về Tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, buộc b cáo Bùi Thanh L phải chấp hành chung hình phạt của cả hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2019.

2. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Văn T và của b hại ch Phan Th P L (đối với b cáo T). Sửa Bản án hình sự s thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần quyết đ nh hình phạt đối với b cáo Nguyễn Văn T.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt b cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù về Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án.

3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

- B cáo Bùi Thanh L phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

- B cáo Nguyễn Văn T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí s thẩm không có kháng cáo kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ