vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H về việc "Ly hôn" với anh Lê Thuận T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim Hđược ly hôn với anh Lê Thuận T. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H ly hôn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H về việc "Ly hôn" với anh Lê Thuận T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Tuyên xử; Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhị

2. Ông Nguyễn Văn Năm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 về việc ”Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1993;

Địa chỉ: ấp M xã N huyện T tỉnh Long An.

Tạm trú: đường N khu phố 3 phường 1 thành phố H tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Lê Thuận Tuyến, sinh năm: 1990;

Địa chỉ: ấp M xã N huyện T tỉnh Long An.

(các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Do quen biết nên chị và anh Lê Thuận T đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 1 thị xã H vào ngày 19/10/2011.

Sau khi cưới chị và anh T sống chung tại thành phố H, tỉnh Tây Ninh, đến năm 2018 vợ chồng về huyện T sinh sống. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chị muốn mua bán hàng hóa để có thêm thu nhập nhưng anh T không đồng ý, anh T thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà kiếm cớ gây sự với chị từ đó xảy ra cãi vã, ngoài ra anh T còn có quan hệ với người phụ nữ khác. Từ tháng 4/2020 chị về nhà cha mẹ ruột sống, từ đó đến nay chị và anh T cũng có gặp nhau nhưng chị không có ý muốn hàn gắn hạnh phúc. Nay xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: chị và anh T có 02 con chung: A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014, hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn anh Lê Thuận T trình bày: qua lời trình bày của chị H về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống anh thống nhất.

Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì, anh cũng thừa nhận có ngăn cản việc chị H buôn bán hàng hóa nên xảy ra cãi vã. Từ tháng 4/2020 vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa, chị H về tỉnh Tây Ninh sống. Từ đó đến nay anh và chị H cũng có gặp nhau, cũng có liên lạc với nhau qua điện thoại, anh cũng có ý muốn hàn gắn lại hạnh phúc nhưng chị H không đồng ý. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý vì còn thương vợ, thương con.

Về con chung: anh và chị H có 02 con chung tên A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014, hiện đang sống chung với chị H. Trong trường hợp tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn, anh yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, trong trường hợp tòa án giao con cho chị H nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh và chị H có 01 căn nhà của cha mẹ anh cất cho nhưng anh không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Sỹ Diệu – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014 cho chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Về phần cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu nên không xem xét.

Chứng cứ mà các bên cung cấp trong vụ án là: Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao giấy khai sinh của con chung; Bản sao sổ hộ khẩu và CMND của chị H, anh T.

Nội dung các bên thống nhất: Thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung.

Nội dung các bên không thống nhất: chị H yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Thuận T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Xét yêu cầu ly hôn của chị H, thấy rằng: chị H và anh T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường 1 thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/10/2011 nên hôn nhân của chị H, anh T là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Hnguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, chị muốn mua bán hàng hóa để có thêm thu nhập nhưng anh T không đồng ý, anh T thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà kiếm cớ gây sự với chị từ đó xảy ra cãi vã, ngoài ra anh T còn có quan hệ với người phụ nữ khác từ đó phát sinh mâu thuẫn. Theo anh T vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, anh T thừa nhận có ngăn cản việc buôn bán của chị H. Từ tháng 4/2020 chị H, anh T không còn sống chung với nhau. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận vì trong quá trình chung sống chị H, anh T đã xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Về phía anh T, từ khi chị H nộp đơn khởi kiện đến nay, mặc dù anh T có ý muốn hàn gắn lại hạnh phúc nhưng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà các bên trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp.

Về con chung: chị H, anh T có 02 con chung tên A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014, hiện đang sống với chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu nuôi 02 con chung. Anh T trình bày trong trường hợp tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn, anh yêu cầu được nuôi 02 con.

Xét thấy các con chung hiện nay đang do chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, các cháu được phát triển và học hành đảm bảo, chị H có chỗ ở ổn định, các con chung từ khi sinh ra cho đến nay do chị H chăm sóc, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu và tạo điều kiện thuận lợi cho các cháu ổn định cuộc sống, mặc khác tại bản tự khai cháu A cũng trình bày có nguyện vọng được sống với chị Hương. Do đó căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu A và B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị H và anh T không tranh chấp tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: chị H và anh T trình bày thống nhất không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H về việc "Ly hôn" với anh Lê Thuận T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim Hđược ly hôn với anh Lê Thuận T.

2. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên A, sinh ngày: 18/01/2012 và B, sinh ngày: 11/11/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh Lê Thuận T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Kim H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007142 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt đương sự. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ