vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị D được ly hôn Anh Nguyễn Văn C. Về án phí: Chị Lý Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006235 ngày …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Duyên ly hôn CHiến"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17/8/2020
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu; Ông Giáp Hồng Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2020/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 89/2020/QĐST - HNGĐ ngày 28/7/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Thị D, sinh năm 1996 ( có mặt)

Nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1996 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn B, xã An D huyện TY, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là Chị Lý Thị D trình bày:

Chị kết hôn với Anh Nguyễn Văn C ngày 10/01/2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã , huyện TY, tỉnh Bắc Giang, trước khi cưới anh chị có tìm hiểu nhau và tự nguyện đi đến kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 13/12/2019, anh C lấy xe máy của chị nói là đi khám bệnh nhưng anh C mang xe máy của chị đi cắm lấy tiền rồi bỏ đi. Anh C ham chơi game và lấy tài sản của chị đi cắm lấy tiền chơi bời, chị khuyên bảo nhiều lần anh C không thay đổi. Vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin được ly hôn Anh Nguyễn Văn C.

Về con chung, về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị D không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, chị D giữ nguyên yêu cầu.

Đối với Anh Nguyễn Văn C, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Tòa án làm việc tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho Chị Lý Thị D được ly hôn Anh Nguyễn Văn C, chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh C có nơi cư ĐKHK và nơi ở tại thôn thôn B, xã An D huyện TY, Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa, anh C vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh C là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh C kết hôn ngày 10/01/2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện TY, tỉnh Bắc Giang nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc tại gia đình anh C nhưng do anh C ham mê chơi game và lấy tài sản của chị mang đi cắm lấy tiền chơi bời, chị khuyên bảo nhiều lần anh C không thay đổi. Đến ngày 13/12/2019, anh C lấy xe máy của chị nói là đi khám bệnh nhưng anh C mang xe máy của chị đi cắm lấy tiền rồi bỏ đi. Vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin được ly hôn Anh Nguyễn Văn C. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh C đã trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho chị D ly hôn anh C là phù hợp.

[3] Về con chung, về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: chị D không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147;điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị D được ly hôn Anh Nguyễn Văn C.

2. Về án phí: Chị Lý Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006235 ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận Chị Lý Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./ Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tân Yên;

- CCTHADS huyện Tân Yên;

- UBND xã An Dương;

- Các đương sự;

- Lưu.

Nguyễn Thị Duyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Sửu

Giáp Hồng Thanh

Nguyễn Thị Duyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Hồng Thanh

Nguyễn Quốc Sửu

Nguyễn Thị Duyên

Cỡ chữ