vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Thùy L được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

[2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông T có có 02 con chung tên là Nguyễn Vũ Phương L, sinh năm 1994 và Nguyễn Anh T, sinh năm 1996. Các cháu đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3] Về chia tài sản và nợ chung: Bà Võ Thị Thùy L và ông Nguyễn Văn T có quyền khởi kiện bằ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thùy Loan"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Thùy L được ly hôn ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2020
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quốc Tân

2. Bà Thái Thị Mỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2020/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2020, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy L, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Hàm Thuận B, tỉnh Bình T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn Phú Lộc T 3, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/4/2020 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Võ Thị Thùy L trình bày: Bà và ông T tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P, tỉnh B cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 75 quyển số 02 ngày 22/5/1995. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, từ năm 2016 vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình. Nguyên nhân do ông T đam mê cờ bạc, thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc cuộc sống gia đình. Mỗi lần say xỉn ông T thường chửi bới, dọa nạt, xua đuổi bà L. Nay các con đã lớn, bà L cảm thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đã vào Ninh Thuận để sinh sống, bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Bà L xác định không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông T có 02 con chung tên là Nguyễn Vũ Phương L, sinh năm 1994 và Nguyễn Anh T, sinh năm 1996. Các con đều đã trưởng thành, khỏe mạnh nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên tòa ngày 14/9/2020 và ngày 30/9/2020; nguyên đơn bà Võ Thị Thùy L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về yêu cầu ly hôn: Bà Võ Thị Thùy L và ông Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, được UBND phường M, thành phố P, tỉnh B cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 75 quyển số 02 ngày 22/5/1995, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông T đam mê cờ bạc, thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm chăm lo cho cuộc sống gia đình. Mỗi lần say xỉn ông T thường chửi bới, dọa nạt, xua đuổi bà L. Bà L đã cho ông T nhiều cơ hội để sửa chữa bản thân nhưng ông T vẫn không thay đổi, cuộc sống không hạnh phúc. Hai người đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông T có có 02 con chung tên là Nguyễn Vũ Phương L, sinh năm 1994 và Nguyễn Anh T, sinh năm 1996. Các cháu đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản và nợ chung: Bà Võ Thị Thùy L và ông Nguyễn Văn T có quyền khởi kiện bằng vụ kiên dân sự khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà Võ Thị Thùy L phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Võ Thị Thùy L được ly hôn ông Nguyễn Văn T.

[2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông T có có 02 con chung tên là Nguyễn Vũ Phương L, sinh năm 1994 và Nguyễn Anh T, sinh năm 1996. Các cháu đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về chia tài sản và nợ chung: Bà Võ Thị Thùy L và ông Nguyễn Văn T có quyền khởi kiện bằng vụ kiên dân sự khác khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Bà Võ Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0001631 ngày 03/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh.

[5] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[6] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ